Danh mục lưu trữ: TƯ LIỆU

Trung Quốc phô trương sức mạnh ở Biển Đông


2010-05-10

SINGAPORE – Có phải Trung Quốc đang ngày càng trở nên quyết đoán hơn trong việc thực thi đòi chủ quyền nhằm kiểm soát 80% khu vực Biển Đông, yêu sách bao gồm chủ quyền đối với hàng chục hòn đảo tranh chấp với một số nước Đông Nam Á?

Hình chụp từ trang web biethet.com

Mô hình tàu sân bay cỡ lớn của Hải quân Trung Quốc.

Những diễn biến gần đây chắc chắn cho thấy như thế. Nhật Bản, Hoa Kỳ, Ấn Độ và Australia – tất cả các cường quốc có khả năng mạnh mẽ trong việc ổn định khu vực – đang quan sát tình hình chặt chẽ.

Trong một cuộc biểu dương lực lượng cho thấy về khả năng thực thi trên biển ngày càng gia tăng, tháng trước hải quân Trung Quốc đã kết thúc việc triển khai tầm xa (1) vào Biển Đông. Việc diễn tập gồm có một số tàu chiến hiện đại nhất của Trung Quốc và kéo dài gần ba tuần.

Đội tàu nhỏ từ Hạm đội Bắc Hải của Trung Quốc có trụ sở tại Thanh Đảo đi vào quần đảo Trường Sa, tất cả hoặc một phần của quần đảo này do Việt Nam, Philippines và Malaysia đòi chủ quyền. Các tàu Trung Quốc neo tại Đá Chữ Thập, bãi đá đã chiếm của lực lượng Việt Nam trong một trận chiến năm 1988 và bây giờ trở thành một căn cứ của Trung Quốc với một trạm radar cảnh báo sớm.

Bắc Kinh sẽ không tha thứ cho bất cứ sự can thiệp nào trên Biển Đông, nói rằng bây giờ Biển Đông đã là một phần các lợi ích “cốt lõi” về chủ quyền của Trung Quốc.

New York Times

Trong khi đó, máy bay chiến đấu Trung Quốc từ nhiều sân bay khác nhau trên đất liền đã tổ chức các cuộc diễn tập khả năng tàng hình cùng các kỹ năng bay đêm, tiếp nhiên liệu trên không, gây nhiễu radar và các cuộc tấn công giả vờ ném bom vào Biển Đông.

Hai tuần trước, cơ quan thực thi nhiệm vụ ngành thủy sản của Trung Quốc đã xác nhận rằng họ bắt đầu tuần tra thường xuyên để bảo vệ tàu thuyền đánh cá của Trung Quốc trong và xung quanh quần đảo Trường Sa, vài chục (hòn đảo) ở đó là nơi đồn trú của Việt Nam, Philippines và Malaysia. Cơ quan này nói rằng hai tàu mới được gửi từ đảo Hải Nam của Trung Quốc để thay thế hai tàu đã đi tuần tra trong khu vực từ ngày 1 tháng 4.

Các quan chức Trung Quốc nói rằng các tàu đánh cá bằng lưới của Trung Quốc liên tục bị quấy nhiễu và đôi khi bị Việt Nam, Philippines và Malaysia tịch thu, mặc dù thực tế họ đang hoạt động tại khu vực hàng hải của Trung Quốc.

Tuyên bố việc triển khai thường xuyên nhằm chống lại cướp biển, chống lại việc bắt giữ và chống lại những cố gắng rượt đuổi các tàu đánh cá Trung Quốc ra khỏi khu vực, ông Liu Tianrong, Phó Cục trưởng cục Quản lý Nghề cá Nam Hải của Trung Quốc cho biết, “cung cấp việc bảo vệ trong khu vực này khỏi các mối đe dọa an ninh đặc biệt sẽ giúp gia tăng các quyền chủ quyền hiện tại của Trung Quốc trên lãnh thổ”.

Phô trương sức mạnh hải quân

tautq-250
Đại diện các nước tham quan tàu ngầm Trung Quốc trong buổi lễ kỷ niệm 60 năm thành lập Hải quân Trung Quốc. Hình chụp từ trang web biethet.com

Cùng lúc, hải quân Trung Quốc cho thấy khả năng phối hợp sức mạnh quân sự dấn sâu vào Biển Đông, một hạm đội khác của Trung Quốc bao gồm các tàu chiến trên mặt biển hiện đại và các tàu ngầm chạy bằng hơi nước qua biển Hoa Đông đi vào Thái Bình Dương, phía Nam Nhật Bản, gặp sự phản đối ngay từ phía Tokyo sau khi máy bay trực thăng của Trung Quốc bị cáo buộc đã bay quá gần các con tàu của Nhật Bản.

Báo Global Times, tờ báo của chính phủ Trung Quốc, nhận xét hôm 27 tháng 4 rằng, khi Trung Quốc cho mình có nhiều trách nhiệm hơn trong khu vực Đông Á, sẽ có các cuộc tập trận quân sự thường xuyên hơn của Trung Quốc tại vùng biển quốc tế, đặc biệt kể từ khi Hoa Kỳ tăng cường phòng thủ ở phía Tây Thái Bình Dương.

“Đương nhiên, sự chuyển đổi của hải quân Trung Quốc sẽ mang lại thay đổi cho mô hình chiến lược ở Đông Á và phía tây Thái Bình Dương đã kéo dài trong năm thập kỷ qua”. Global Times nói thêm rằng việc chuyển đổi là tích cực bởi vì Trung Quốc không có ý định “thách thức Hoa Kỳ ở Trung tâm Thái Bình Dương hoặc tham gia vào một cuộc đụng độ quân sự với Nhật Bản ở vùng biển lân cận, mặc dù Trung Quốc sẵn sàng bảo vệ lợi ích cốt lõi bằng mọi giá”.

Gần đây, báo New York Times đưa tin, trong tháng 3, Trung Quốc đã nói với hai quan chức cao cấp Hoa Kỳ đang viếng thăm rằng, Bắc Kinh sẽ không tha thứ cho bất cứ sự can thiệp nào trên Biển Đông, nói rằng bây giờ Biển Đông đã là một phần các lợi ích “cốt lõi” về chủ quyền của Trung Quốc.

Các quan chức Hoa Kỳ đã được trích dẫn khi nói rằng, đây là lần đầu tiên Trung Quốc đặt Biển Đông vào danh mục lợi ích cốt lõi của quốc gia, ngang hàng với Đài Loan và Tây Tạng.

Điều này có nghĩa là, nếu cần, Trung Quốc sẽ sử dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực để bảo vệ việc tuyên bố chủ quyền quốc gia của mình trên đất liền hoặc trên biển trong khu vực.

Trong một bài diễn văn tại Trung tâm Chiến lược và Nghiên cứu Quốc tế hồi tháng 3, ông Teo Chee Hean, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Quốc phòng Singapore lưu ý rằng, Trung Quốc thường dùng phương pháp tiếp cận “mềm mại và nhẹ nhàng” trong khu vực Đông Nam Á, “trừ khi lợi ích cốt lõi quốc gia của họ bị đe dọa”.

Trung Quốc là thành viên duy nhất trong Hội đồng Bảo an Liên Hiệp quốc không nhận sự thống nhất hoàn toàn. Chúng tôi vẫn phải đối mặt với nhiều thử thách, chẳng hạn như tranh chấp hàng hải với các nước khác.”

Ô. Trần
Chu Chuẩn tướng

“Chúng tôi thấy điều này qua việc phản ứng của Trung Quốc hồi năm ngoái đối với việc Malaysia – Việt Nam gửi đệ trình chung lên Ủy ban Liên Hiệp quốc về Giới hạn Thềm lục địa cho các yêu sách của mình ở Biển Đông. Trung Quốc đã trả lời lại ngay ngày hôm sau, với một yêu sách trả đũa rằng (vùng biển của họ) trải dài tới tận ngoài khơi phía Đông Malaysia và quần đảo Natuna của Indonesia”.

Biện hộ về việc gia tăng hải quân của Trung Quốc, trong một cuộc họp ở Bắc Kinh về Đối thoại Quốc phòng và An ninh ASEAN – Trung Quốc vào cuối tháng 3, ông Trần Chu Chuẩn tướng (2), thuộc Học viện Khoa học Quân sự cho biết, Trung Quốc là “thành viên duy nhất trong Hội đồng Bảo an Liên Hiệp quốc không nhận sự thống nhất hoàn toàn” (3). Ông nói thêm rằng: “Chúng tôi vẫn phải đối mặt với nhiều thử thách, chẳng hạn như tranh chấp hàng hải với các nước khác.”

Sự quyết đoán rõ ràng của Trung Quốc ở Biển Đông xảy ra giữa lúc tiếp tục có các sự chia rẽ trong 10 thành viên Hiệp hội Các nước Đông Nam Á về việc có phản ứng hay không và sẽ phản ứng như thế nào. Việt Nam hiện đang giữ chức Chủ tịch ASEAN, nước đang đòi chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa mà Trung Quốc đang chiếm giữ cũng như chuỗi quần đảo Trường Sa, đã không thể đưa cả nhóm cùng hành động như một khối trong giao dịch với Bắc Kinh.

Nếu không có một chiến lược thống nhất (giữa các nước) ASEAN, các cường quốc quan tâm khác gồm Nhật Bản, Mỹ, Ấn Độ và Australia, cũng sẽ thấy khó hơn để chế ngự Trung Quốc.

Michael Richardson là một chuyên viên nghiên cứu cao cấp thỉnh giảng tại Viện Nghiên Cứu Đông Nam Á ở Singapore.

Ghi chú:

(1) A long-range deployment: triển khai tầm xa, tức là triển khai khả năng chiến đấu xa và lâu mà không cần tiếp nhiên liệu vì các tàu đưa vào tập trận phải được trang bị đầy đủ nhiên liệu, lương thực, khả năng chiến đấu dài hạn…có thể chiến đấu xa bờ và lâu ngày.

(2) Senior Colonel: tức Brigadier General, cấp bậc ở giữa Đại tá và Thiếu tướng.

(3) Ý trong câu này: Trung Quốc thường hay bỏ phiếu ngược lại với các thành viên khác trong HĐBA Liên Hiệp quốc.

Advertisements

Trung Quốc cảnh báo Hoa Kỳ nên đứng ngoài chuyện tranh chấp các đảo


2010-07-27

BẮC KINH – Chính phủ Trung Quốc đã phản ứng giận dữ hôm thứ hai về lời tuyên bố của Ngoại trưởng Hillary Rodham Clinton, rằng Washington đột kích vào chuyện tranh chấp lãnh thổ âm ỉ từ lâu giữa Trung Quốc và các nước láng giềng nhỏ hơn ở Biển Đông.

Photo courtesy of dantri.com.vn

Các đại biểu tham dự Diễn đàn an ninh khu vực Asean lần thứ 8 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia Hà Nội sáng 23/07/10.

Andrew Jacobs

26-07-2010

Phát biểu hôm thứ Sáu tại diễn đàn các nước Đông Nam Á ở Việt Nam, bà Clinton rõ ràng đã làm Bắc Kinh kinh ngạc bằng cách nói rằng Hoa Kỳ có sự “quan tâm quốc gia” trong việc tìm kiếm hòa giải các tranh chấp, trong đó gồm khoảng 200 hòn đảo, đảo nhỏ và đảo san hô nổi trên mặt nước, mà Trung Quốc, Việt Nam, Brunei, Malaysia, Đài Loan, Indonesia và Philippines đòi chủ quyền.

Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc, ông Dương Khiết Trì đã cảnh báo Hoa Kỳ, chống lại việc công kích vào trận chiến, nói rằng sẽ gia tăng căng thẳng trong khu vực.

Hậu quả sẽ là gì nếu vấn đề này chuyển sang đa phương hay quốc tế hoá”? Ông hỏi trong bài bình luận đăng trên trang Web của Bộ Ngoại giao. “Nó chỉ làm cho vấn đề tồi tệ hơn và việc giải quyết vấn đề khó khăn hơn”.

Trung Quốc sẽ không bao giờ từ bỏ quyền của mình để bảo vệ lợi ích cốt lõi qua phương tiện quân sự.

Tờ Global Times

Các phương tiện truyền thông nhà nước không được khôn khéo, mô tả bài phát biểu của bà Clinton là “một cuộc tấn công” và một nỗ lực đáng ngờ để đàn áp nguyện vọng của Trung Quốc – và mở rộng sức mạnh.

“Hy vọng của tôi là phát triển các khả năng quân sự của Trung Quốc”, Nhân dân Nhật báo, tờ báo của Đảng Cộng sản đã chạy một bài xã luận hôm thứ Hai.

Tờ Global Times, tờ báo lá cải tiếng Anh, thuộc tờ Nhân dân Nhật báo cho biết: “Trung Quốc sẽ không bao giờ từ bỏ quyền của mình để bảo vệ lợi ích cốt lõi qua phương tiện quân sự”.

Tuyên bố của bà Clinton vào thời điểm căng thẳng gia tăng giữa Washington và Bắc Kinh về một số khác biệt kinh tế và ngoại giao. Ngày Chủ Nhật, Hoa Kỳ và Nam Hàn đã bắt đầu bốn ngày tập trận hải quân ngoài khơi bán đảo Triều Tiên, liên quan đến 200 máy bay, 20 tàu và một tàu sân bay. Mặc dù các cuộc tập trận có ý nghĩa như một thông điệp tới Bắc Hàn – như Nam Hàn đã quy lỗi cho ngư lôi tấn công vào tàu chiến hồi tháng 3, đã giết chết 46 thủy thủ – Trung Quốc chào đón các cuộc diễn tập bằng một số báo động.

Cho đến khi bà Clinton đưa ra lời bình luận, tranh chấp về các quần đảo trên Biển Đông vẫn là sự quan tâm chủ yếu trong khu vực. Diện tích tranh chấp trải dài 1,2 triệu dặm vuông, là một kênh ngày càng quan trọng đối với 1/3 thương mại hàng hải trên thế giới và hầu hết nguồn cung năng lượng trong khu vực, cũng như các mỏ dầu lửa và khí tự nhiên khổng lồ được cho là dưới đáy đại dương.

Năm 1988, quân đội Trung Quốc và Việt Nam đã đánh nhau trên một quần đảo, quần đảo Hoàng Sa (*), lấy đi mạng sống của hàng chục thủy thủ Việt Nam. Năm nay, Trung Quốc công bố kế hoạch phát triển du lịch trên quần đảo Hoàng Sa. Trong những tháng gần đây, họ đã cảnh báo các công ty dầu nước ngoài, chống lại các thỏa thuận khai thác đáng chú ý với Việt Nam.

hillary-250.jpg
Bà ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton và Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Robert Gates đến Nam Hàn hôm 21/7/2010. RFA/Korea

Ông Xu Liping, chuyên gia về Đông Nam Á tại Học viện Khoa học Xã hội Trung Quốc ở Bắc Kinh, nói rằng Hoa Kỳ từ lâu xao lãng do các cuộc xung đột ở Iraq và Afghanistan, đang tìm cách khôi phục ảnh hưởng trong khu vực.

Hoa Kỳ cảm thấy đây là lúc để chơi quân bài chính trị và quân sự do rất khó khăn để họ cạnh tranh với Trung Quốc trong các lĩnh vực kinh tế”, ông nói thêm rằng nếu Washington có thể đóng một vai trò lớn hơn ở Biển Đông, “sẽ giúp tiếp tục gây ảnh hưởng các nước Nam Á”.

Các viên chức Mỹ đã phản ứng với mối quan ngại ngày càng tăng về tham vọng của hải quân Trung Quốc, một chiến lược mới mà các Đô đốc Trung Quốc đã mô tả như là “phòng thủ ngoài khơi”. Ngoài việc từ chối nhân nhượng bất kỳ chủ quyền lãnh thổ trên Biển Đông, Trung Quốc đã công bố kế hoạch triển khai các tàu sân bay, và tăng cường đội tàu ngầm hạt nhân có khả năng bắn tên lửa đạn đạo.

Trong tháng 3, Trung Quốc đã cảnh báo hai viên chức Mỹ đang viếng thăm rằng họ sẽ không tha thứ [cho bất kỳ sự] can thiệp nào vào Biển Đông, khu vực mà nó mô tả như là “lợi ích cốt lõi” của họ, như Tây Tạng và Đài Loan.

[Các nước] láng giềng của Trung Quốc đã phản ứng bằng cách củng cố lực lượng hải quân của riêng họ. Trong những năm gần đây, Việt Nam, Singapore và Malaysia đã mua tàu ngầm. Hôm Chủ Nhật, lần đầu tiên Nhật Bản công bố kế hoạch tăng hạm đội tàu ngầm trong hơn ba thập kỷ.

Hoa Kỳ cảm thấy đây là lúc để chơi quân bài chính trị và quân sự do rất khó khăn để họ cạnh tranh với Trung Quốc trong các lĩnh vực kinh tế.

Ông Xu Liping

Tuyên bố của bà Clinton hôm thứ Sáu về cơ bản đã là một cái gật đầu cho Việt Nam, nước đã và đang tìm kiếm sự hỗ trợ cho các cuộc đàm phán đa phương như là một bức tường thành chống lại lập trường Trung Quốc về các vấn đề chủ quyền. Trung Quốc đã nhấn mạnh rằng xung đột nên được giải quyết thông qua những cuộc đàm phán tay đôi. “Sự đồng thuận là các tranh chấp này được giải quyết một cách hòa bình thông qua các cuộc thảo luận thân thiện, vì lợi ích hòa bình và ổn định trên Biển Đông và quan hệ láng giềng tốt”, ông Dương, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc cho biết trong một tuyên bố của ông.

Ian Storey, thành viên của Viện Nghiên cứu Đông Nam Á ở Singapore, nói rằng Washington gia tăng sự quan tâm trên Biển Đông chắc chắn làm nổi lên căng thẳng giữa hai nước. Các cuộc đối đầu như vậy đã kết thúc cuộc chạm trán ít thân thiện hơn giữa tàu Mỹ và Trung Quốc.

Đây rõ ràng là một bất ngờ khó chịu cho Trung Quốc”, ông Storey nói về tuyên bố của bà Clinton.

Bibo và Zhang Li Jing đóng góp phần nghiên cứu.

————–

(*) Không phải quần đảo Hoàng Sa mà là Trường Sa.

Ngọc Thu dịch

Nguồn: http://www.nytimes.com/2010/07/27/world/asia/27china.html?_r=2

Trung Quốc: một vấn đề quan trọng với các chính trị gia


2010-07-12

Dịch vụ cung cấp tin tức của Trung Quốc đã đăng một bức hình trên website hồi tháng trước về tàu vận tải của Lực lượng Phòng vệ Hàng hải Nhật Bản (JMSDF) JDS Kunisaki cùng với tàu bệnh viện Hải quân Hoa Kỳ USNS Mercy với các hình chữ thập đỏ sơn trên nền trắng bên ngoài.

AFP PHOTO / TOSHIFUMI KITAMURA

Một máy bay trực thăng CH-46E của thủy quân lục chiến Mỹ cất cánh từ căn cứ không quân Futenma ở Okinawa hôm 26/4/2010

Tiêu đề đi kèm theo bài viết là: “Hạm đội hải quân Nhật Bản và Hoa Kỳ tiến hành diễn tập quân sự chung trên Biển Đông”.

Thực tế, đây không phải là cuộc tập trận quân sự, mà là “Hợp tác Thái Bình Dương 2010”, là việc cố gắng trợ giúp dân sự nhân đạo đa quốc gia do Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ tổ chức.

Nhật Bản đã gửi một tàu JMSDF lần đầu tiên tham gia vào các hoạt động đầy đủ từ cuối tháng 5, bao gồm các hoạt động y tế dân sự ở Việt Nam và Campuchia. Trong khi tin tức của Trung Quốc đưa ra rõ ràng là cường điệu, có một lý do để Trung Quốc lo lắng: căng thẳng đang xảy ra trên Biển Đông.

Trung Quốc từ lâu cho rằng họ có “chủ quyền hàng hải” trên Biển Đông. Họ đã kiên quyết trong vấn đề này, thậm chí đi đến việc giam giữ ngư dân Việt Nam, những người mà Trung Quốc cho là đi vào lãnh hải Trung Quốc bất hợp pháp.

Hiện một chuyên gia Mỹ cho biết: “Trung Quốc đã bắt đầu xem Biển Đông như ‘lợi ích cốt lõi’ của họ cách nay hai, ba tháng”. “Lợi ích cốt lõi” là thuật ngữ mà Bắc Kinh đã sử dụng để nói tới Đài Loan và Tây Tạng với nghĩa rộng là chủ quyền lãnh thổ không cho phép có bất kỳ thỏa hiệp nào.

Thay cho vấn đề lịch sử đã là rào cản truyền thống với Trung Quốc, trong tương lai ‘vấn đề hàng hải’ sẽ trở thành nguyên nhân mâu thuẫn.

Một viên chức chính phủ Nhật

Đầu tháng sáu, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ, ông Robert Gates đã tham dự Đối thoại Shangri-La ở Singapore, tại đó ông lưu ý rằng: “Biển Đông là khu vực quan ngại ngày càng gia tăng”. Một số cựu quan chức chính phủ Hoa Kỳ nói rằng, Mỹ cần nói rõ lực lượng Hoa Kỳ cùng với bạn bè và đồng minh trong khu vực sẽ thực hiện một nhiệm vụ ngăn chặn thông thường mạnh mẽ.

Nhật Bản đơn giản không thể bỏ qua các hành động của Trung Quốc và xem các hành động đó như là vấn đề của nước khác bởi vì các hoạt động ở Biển Đông được xem có liên quan chặt chẽ đến sự hiện diện và các hoạt động của hải quân Trung Quốc gia tăng gần đây ở vùng biển gần Nhật Bản. “Thay cho vấn đề lịch sử đã là rào cản truyền thống với Trung Quốc, trong tương lai ‘vấn đề hàng hải’ sẽ trở thành nguyên nhân mâu thuẫn”, một viên chức chính phủ Nhật Bản quan sát.

Về vấn đề này, quan hệ giữa Nhật Bản với Trung Quốc đi tới một bước ngoặt. Tuy nhiên, vấn đề này hoàn toàn bị bỏ qua trong chiến dịch bầu cử Thượng viện ngày Chủ Nhật.

Khả năng gia tăng quân sự của Trung Quốc phản ánh ảnh hưởng phát triển kinh tế. Nó cũng trở nên phô trương hơn hoặc sử dụng các yếu tố sức mạnh quốc gia khác nhau, gồm các khả năng quân sự.

Tại Hội nghị lần thứ 15 giữa các bên (COP15) Công ước khung của LHQ về biến đổi khí hậu tại Copenhagen cuối tháng 12, Trung Quốc đã công khai thách thức thành lập một trật tự quốc tế mà không phù hợp với lợi ích riêng của họ. Những điều mà Nhật Bản đang yêu cầu hiện nay là làm thế nào để đối phó với [một nước] Trung Quốc mới.

Trong một cuộc tranh luận giữa các lãnh đạo đảng trước khi chiến dịch tranh cử chính thức bắt đầu, Thủ tướng Naoto Kan đã nói điều này: “Chúng ta phải chú ý đến thực tế rằng Trung Quốc đang gia tăng sức mạnh không những kinh tế, mà còn cả sức mạnh quân sự. Nếu Nhật Bản và Hoa Kỳ hợp tác chặt chẽ với nhau, cả hai mối quan hệ Trung – Nhật và mối quan hệ Trung – Mỹ có thể được ổn định”.

Về phần mình, Đảng Dân chủ Tự do, đứng đầu là ông Sadakazu Tanigaki nói: “Ý nghĩa của Hiệp ước an ninh Nhật – Mỹ nằm ở chỗ tìm cách để bảo đảm việc gia tăng của hải quân Trung Quốc không đặt ra mối đe dọa cho Nhật Bản”.

Cả hai lãnh đạo đảng đều nhấn mạnh tầm quan trọng trong liên minh với Hoa Kỳ, ngoài ra, hầu như họ không nói đến bất cứ điều gì khác.

Quan hệ Nhật-Trung-Mỹ

000_Hkg3469651-250.jpg
Máy bay tiêm kích phản lực J-10 của Trung Quốc chạy ngang một sĩ quan Không quân trên đường băng tại căn cứ Không quân Yangcun – Trung Quốc, ngày 13 Tháng 4 Năm 2010. AFP PHOTO/Frederic J. BROWN

Mối quan hệ Nhật -Trung là mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau trên mặt trận kinh tế và ngờ vực cũng như đối đầu trong các lĩnh vực chính trị và an ninh quốc gia. Vì lý do đó, rất khó để đạt được sự phù hợp hoàn toàn trong một chính sách tổng thể đối với Trung Quốc. Khi ông Yukio Hatoyama làm thủ tướng, đã có các ý kiến lặp đi lặp lại từ lãnh đạo Đảng Dân chủ Nhật Bản (DPJ) về việc chuyển sự tập trung của Nhật Bản vào quan hệ với Trung Quốc.

Tháng 10 năm ngoái, ngay sau khi giành chiến thắng trong cuộc bầu cử đã đưa Đảng Dân chủ Nhật Bản (DPJ) lên nắm quyền, tại Bắc Kinh ông Hatoyama đã gặp người đồng nhiệm của mình từ Trung Quốc và Nam Hàn. Ông đã nói thẳng tại cuộc họp: “Cho đến nay, có thể có khuynh hướng Nhật Bản phụ thuộc nhiều vào Hoa Kỳ”.

Tháng 12, khi ông cùng đi với ông Ichiro Ozawa, lúc đó là Tổng thư ký DPJ trong chuyến đi tới Trung Quốc, ông Kenji Yamaoka, Chủ tịch DPJ Diet affairs committee, có lời nhận xét gây sốc Washington.

Vào lúc quan hệ Nhật – Mỹ đang gặp khó khăn do vấn đề di dời căn cứ Futenma (Okinawa), ông Yamaoka nói: “Cách tiếp cận thực tế sẽ là củng cố quan hệ Nhật – Trung trước và sau đó giải quyết vấn đề với Hoa Kỳ“.

Theo chính phủ Kan hiện nay, không có bình luận nào cho thấy rằng có sự thay đổi về các vấn đề ngoại giao chính từ Hoa Kỳ sang Trung Quốc.

Tuy nhiên, vẫn còn một nhiệm vụ vô cùng khó khăn để đạt được “chiều sâu trong liên minh” với Hoa Kỳ trong khi cố gắng thiết lập “mối quan hệ chiến lược đôi bên cùng có lợi” với Trung Quốc.

Loại trật tự trong khu vực nào mà Nhật đang tìm kiếm? Sẽ cần thiết cho một chiến lược an ninh quốc gia và ngoại giao toàn diện quanh câu hỏi này. Điều đặc biệt quan trọng sẽ là an ninh hàng hải.

Tuy nhiên, cuộc tranh luận về ngoại giao thực tế đã không đi đến vấn đề chính đó.

Ông Kan gián tiếp nói đến quan hệ với Trung Quốc trong một bài phát biểu hôm thứ Hai ở Takamatsu bằng cách nói rằng “nền kinh tế Nhật Bản có thể thoát khỏi trì trệ” do khắc phục “quan hệ kinh tế và chính trị nóng lạnh” đã được phát triển dưới thời chính phủ do ông Junichiro Koizumi đứng đầu.

Nếu Nhật Bản và Hoa Kỳ hợp tác chặt chẽ với nhau, cả hai mối quan hệ Trung – Nhật và mối quan hệ Trung – Mỹ có thể được ổn định.

Thủ tướng Naoto Kan

Bản tuyên ngôn chiến dịch của Đảng Dân chủ Nhật kêu gọi: “Tăng cường mối quan hệ tin cậy với Trung Quốc thông qua các trao đổi quốc phòng, trong khi tìm kiếm sự minh bạch lớn hơn trong chính sách quốc phòng của Trung Quốc”.

Bản tuyên ngôn cũng nói rằng đảng “sẽ cố gắng hết sức để xây dựng mối quan hệ tin cậy với Trung Quốc, Hàn Quốc và các quốc gia châu Á khác trong việc tìm cách thiết lập một ‘Cộng đồng Đông Á’.”

Trong khi bản Tuyên Ngôn nhiều lần nhấn mạnh “mối quan hệ của niềm tin”, chưa có lần nào đề cập đến việc Nhật Bản nên làm gì để thiết lập [mối quan hệ đó].

Mở đầu bài diễn thuyết của mình hôm 24 tháng 6, sau khi chính thức bắt đầu chiến dịch, ông Tanigaki kêu gọi nỗ lực để khôi phục lại niềm tin sau khi nói: “Nhật Bản đã bị mất sự tin tưởng của cộng đồng quốc tế vì sự do dự trong vấn đề Futenma”.

Về câu hỏi là hình thức ngoại giao nào ở châu Á mà Nhật Bản nên tìm kiếm, tuyên ngôn của LDP kêu gọi “đem lại sự tự do, thịnh vượng và ổn định ở châu Á”. Không cho thấy những gì cụ thể mà đảng này đang tìm kiếm.

Căng thẳng gia tăng ở Biển Đông cho thấy, sự cân bằng quyền lực chiến lược ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương đang có những thay đổi nhanh chóng do sự gia tăng của Trung Quốc.

Tuy nhiên, các đảng phái đã không đưa ra được các sáng kiến riêng và những sự lựa chọn thay thế về các vấn đề ngoại giao mà các cử tri Nhật Bản quan tâm nhất, cụ thể là Nhật Bản nên xây dựng mối quan hệ gì với Trung Quốc và chiến lược khu vực nào Nhật Bản nên theo đuổi.

Dịch từ: http://www.asahi.com/english/TKY201007090525.html

Việt Nam đã quên cuộc đấu tranh cho tự do?


2010-06-28

TS K. R. Bolton
10-06-2010
Xung đột về ý thức hệ và đặc biệt là sự bất đồng giữa cánh tả với cánh hữu nói chung phục vụ cho việc: (1) Che giấu các sự kiện và đặc biệt là nguyên nhân các vấn đề bởi vì các giáo điều cố thủ, (2) Làm cho kẻ thù trong nhóm và các cá nhân, những người có nhiều điểm chung hơn là tìm thấy sự bất đồng.

Photo courtesy National Archives & Records Administration.

Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon và Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai tại Bắc Kinh hôm 25-2-1972.

Trường hợp Việt Nam, và đặc biệt là cuộc nội
chiến giữa hai miền Nam – Bắc, sự bất đồng giữa hai phe dĩ nhiên là đang xảy
ra. Cánh tả ở phương Tây, và đặc biệt là tại Mỹ, đứng ở vị trí chống lại bất cứ
chính sách nào mà Hoa Kỳ theo đuổi, trong khi cánh hữu kiên định ở vị trí là
“bất cứ điều gì đất nước tôi làm, tôi đều ủng hộ”.

Những ngày này, trong cuộc chiến chống lại “trục
ma quỷ”, cánh hữu, ý tôi muốn nói là trong bối cảnh “những người bảo thủ nguyên
thủy” của Mỹ, khác với những người có nguồn gốc theo chủ nghĩa Tờ rốt kít,
“những người bảo thủ mới”, trở lại vị trí truyền thống “nước Mỹ là trước hết”
đã không còn được ưa chuộng trong chính sách của Mỹ kể từ thời điểm ít nhất là
thời Tổng thống Woodrow Wilson.

Cuộc đấu tranh cho tự do Việt Nam

Trường hợp Việt Nam, đã đấu tranh được vài
ngàn năm và có dấu hiệu cho thấy cuối cùng họ đầu hàng vì một quyền lực nước
ngoài gặm nhấm chủ quyền hơn bất kỳ cường quốc quân sự đế quốc thông thường
nào.

Tham vọng đế quốc Trung Quốc đối với Việt Nam
ngược trở lại năm 208 TCN, khi một tướng Trung Quốc là Triệu Đà, tự xưng hoàng
đế trên nhiều phần lãnh thổ của Việt Nam. Năm 111 TCN, Việt Nam đã sát nhập vào
nhà Hán và trở thành quận Giao Chỉ. Sau nhiều thế kỷ kháng cự, độc lập đã đạt
được ở một mức độ nào đó, nhưng Việt Nam vẫn tiếp tục phải cống nạp cho Trung
Quốc.

Người Mông Cổ đã bị đẩy lùi thành công trong
thế kỷ 12 và người Việt là giống dân duy nhất làm được điều đó, đủ để chứng
minh sự kiên cường của họ. Trung Quốc chiếm đóng Việt Nam năm 1407, nhưng sau
hai thập kỷ chiến đấu, đã được giải phóng hoàn toàn trong năm 1428. Trung Quốc
lại tấn công vào năm 1788 nhưng cũng đã bị đẩy lui.

Pháp không bao giờ có thể mong đợi việc quay lại thuộc địa Đông Nam Á có hiệu lực, và khu vực này chắc chắn trở thành mối quan tâm về địa chính trị của Hoa Kỳ như là cường quốc Thái Bình Dương đang lên

Sử gia Peter Grosse

Năm 1909, Trung Quốc cố đòi quần đảo Hoàng
Sa, bắt đầu một loạt các hành động hung hăng kéo dài cho đến nay. Năm 1956, hải
quân Trung Quốc chiếm một phần quần đảo Hoàng Sa và xâm lấn thêm vào năm 1974.
Năm 1984, Trung Quốc thành lập khu hành chính Hải Nam, kiểm soát hai quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa. Năm 1988, tàu Trung Quốc và Việt Nam đã đụng độ ở đá Gạc
Ma và Cô Lin (Johnson Reef). Năm 1992, đã có những cuộc xâm nhập sâu hơn vào
Trường Sa.

Trung Quốc đã tham gia hợp đồng với Công ty
Năng lượng Crestone Hoa Kỳ năm 1994, thăm dò dầu khí quanh Trường Sa. Năm 2000,
Việt Nam đã nhượng bộ cho Trung Quốc vùng biển ngoài Vịnh Bắc Bộ. Trong năm
2004, có hơn 1.000 lần Trung Quốc xâm phạm vùng biển Việt Nam, với 80 ngư dân
Việt Nam bị giam giữ trong tháng 12.

bando1b-305.jpg
Bản đồ do Hội địa lý Hoa Kỳ phát hành phần khoanh vòng màu đen là Hoàng Sa được chú thích là của Trung Quốc. Photo courtesy of nationalgeographic.com

Trung Quốc đã khoan dầu ở vùng biển Việt Nam
trong năm 2005, và trong năm đó hải quân Trung Quốc bắn vào ngư dân Việt Nam ở
vùng biển Việt Nam thuộc Vịnh Bắc Bộ. Năm 2007, Trung Quốc bắn vào ngư dân Việt
Nam ngoài khơi Hoàng Sa. Hải quân Trung Quốc tiến hành tập trận trong khu vực.

Chính phủ Trung Quốc phê duyệt kế hoạch xây
dựng Tam Sa, một thành phố lớn để sáp nhập ba quần đảo, bao gồm cả quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa nằm dưới sự kiểm soát của Trung Quốc [1].

Năm 1979, Việt Nam trở thành nạn nhân của sự
đối đầu Trung – Xô, khi Trung Quốc xâm lược như “một hành động của việc bác bỏ
Hiệp ước Hữu nghị, Liên minh, và Tương trợ Trung – Xô, tới kỳ gia hạn”[2].

Khoản 6 của Hiệp ước nói rằng, nếu hai bên
không ký thông báo ý định chấm dứt hiệp ước trong năm cuối cùng, liên minh sẽ
tự động gia hạn thêm 5 năm nữa [3].

Cái được gọi là Hiệp ước Hữu nghị Trung – Xô
không được thiết kế để bảo đảm vị trí siêu cường cho Trung Quốc là do Liên Xô,
như ý định của Mao, hoặc không phải là một liên minh hữu nghị giữa hai nước
cộng sản được cho là anh em nhưng để duy trì vị trí của sự chinh phục và làm
nhục công khai. Trung Quốc xem Hiệp ước này giữ cho Nga “quyền bá
chủ”. Nó đến từ những ngày khi Stalin áp đặt các điều kiện lên chính quyền
Mao, rằng ông không bao giờ được xem là đồng chí [4].

Do đó, Trung Quốc xâm lược Việt Nam năm 1979
với ý định khiêu khích trực tiếp Liên Xô, nước đã ký hiệp ước phòng thủ với
Việt Nam năm 1978, chính hiệp ước này nhắm vào Trung Quốc. Liên minh Việt – Xô
này đã làm cho Việt Nam “dính chặt vào” “mục đích kềm chế Trung Quốc” của Liên
Xô [5].

Rạn nứt giữa Trung Quốc và Việt Nam càng trở
nên rõ hơn khi hàng ngàn người gốc Hoa chạy trốn khỏi Việt Nam trong năm 1978.
Tranh chấp lãnh thổ trên quần đảo Trường Sa và Việt Nam xâm lược Campuchia, đã
gia tăng căng thẳng trong quan hệ Việt – Trung.

Ông Bruce Elleman nói rằng Trung Quốc không
đối mặt với thất bại ở Việt Nam do việc rút quân nhanh, bởi vì cuộc xâm lược
này nhằm mục đích thách thức Liên Xô, nước đã ký hiệp ước phòng thủ với Việt
Nam, cho thấy Nga xuất hiện như cái gọi là “con gấu giấy”; do đó bác bỏ hiệp
ước gọi là Nga – Trung, hiệp ước chẳng là gì cả, chỉ là một sự cản trở và đã
tới lúc gia hạn đúng vào thời điểm cuộc tấn công.

Trung Quốc thông báo ý định xâm lược Việt Nam vào ngày 15 tháng 2 năm
1979, là ngày đầu tiên mà họ có thể chấm dứt Hiệp ước Trung – Xô năm 1950 một
cách hợp pháp, và họ đã tấn công Việt Nam ba ngày sau đó. Khi Moscow không can
thiệp, Bắc Kinh công khai tuyên bố rằng Liên Xô đã thất hứa trong việc hỗ trợ
Việt Nam. Sự thất bại của Liên Xô trong việc giúp đỡ Việt Nam làm cho, ngày 3
tháng 4 năm 1979, Trung Quốc tuyên bố rằng họ có ý định chấm dứt Hiệp ước Hữu
nghị, Liên minh và tương trợ Trung – Xô năm 1950.

… Chỉ sau ba tuần giao tranh, Trung Quốc rút lui và tranh chấp biên
giới Việt – Trung vẫn chưa được giải quyết. Với đa số những người ngoài, hành
động quân sự của Trung Quốc như thế được xem là thất bại. Nhưng nếu mục tiêu
thực sự đằng sau cuộc tấn công của Trung Quốc là để lộ ra sự bảo đảm hỗ trợ
quân sự cho Việt Nam của Liên Xô là dối trá, thì việc Liên Xô từ chối can thiệp
một cách hiệu quả đã chấm dứt hiệp ước phòng thủ Việt – Xô.

Như vậy, rõ ràng là Bắc Kinh đã đạt được một chiến thắng chiến lược bằng
cách phá vỡ sự bao vây của Liên Xô và loại bỏ mối đe dọa của Moscow về một cuộc
chiến trên hai mặt trận [6].

Trung Quốc đe dọa gây chiến với Nga nếu Nga
viện trợ cho Việt Nam. Trong khi đó, Trung Quốc phát triển liên minh với Hoa
Kỳ, [điều này] đã đe dọa Liên Xô trên hai mặt trận.

Nhằm ngăn chặn sự can thiệp của Liên Xô thay
cho Việt Nam, ngày hôm sau Đặng Tiểu Bình đã cảnh cáo Moscow rằng, Trung Quốc
đã chuẩn bị một cuộc chiến toàn diện chống Liên Xô. Để chuẩn bị cho cuộc xung
đột này, Trung Quốc đặt tất cả quân đội dọc theo biên giới Trung – Xô, báo động
một cuộc chiến khẩn cấp, thiết lập lệnh quân sự mới ở Tân Cương, và thậm chí sơ
tán khoảng 300.000 thường dân khỏi biên giới Trung – Xô [7].

Trung Quốc đã chứng kiến sự thiếu ý chí ở
Nga, cộng thêm sự thất bại của Bộ Chính trị hành động chống lại Công đoàn Đoàn
kết ở Ba Lan [8].

Chủ nghĩa thực dân Pháp và Chủ nghĩa thực dân mới của
Mỹ

Taquangbuukyhiepdinhgeneve.jpg-250.jpg
Tạ Quang Bửu, trưởng đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đang ký Hiệp định Genève. Photo courtesy of wikipedia

Sau hàng loạt hành động xâm lược quân sự của
Pháp giữa 1859 và 1885, Việt Nam trở thành Đông Dương của Pháp. Bắt đầu sự sụp
đổ Đông Dương của Pháp, và thực ra của các cường quốc đế quốc châu Âu nói
chung, đã được thiết lập trong sự chuyển động của thế chiến thứ II. Năm 1941,
Nhật xâm chiếm Việt Nam. Cuộc chiến tranh chống Nhật đã cho Hồ Chí Minh cơ hội
giành lấy Hà Nội. Từ 1946-1954 lực lượng của Pháp và ông Hồ đã tham gia với
nhau, miền Bắc và miền Nam Việt Nam đã được thành lập theo Hiệp định Geneva năm
1954, với Pháp đã bị loại ra.

Thật là ngây thơ khi tin rằng Hoa Kỳ theo
đuổi thái độ thân thiện với các đồng minh Thế chiến thứ II liên quan đến tương
lai của các đế quốc châu Âu sau chiến tranh. Hoa Kỳ chỉ cam kết tiêu diệt các
đế quốc châu Âu như Liên Xô [cam kết], khi cả hai tìm cách lấp vào khoảng
trống. Đó là điều hiển nhiên từ Hội đồng Đối ngoại (CFR) Hoa Kỳ, ý kiến của sử
gia Peter Grosse cho rằng các đầu sỏ chính trị sánh với Liên Xô như những người
đỡ đầu chống chủ nghĩa thực dân. Ông Grosse viết:

Đông Dương được xem như là một vấn đề thực dân Pháp; sự đồng thuận về các
nghiên cứu thời chiến, đó là Pháp không bao giờ có thể mong đợi việc quay lại
thuộc địa Đông Nam Á có hiệu lực, và khu vực này chắc chắn trở thành mối quan
tâm về địa chính trị của Hoa Kỳ như là cường quốc Thái Bình Dương đang lên [9].

Ông Grosse nói rằng lãnh tụ cộng sản/ những
người nổi dậy theo chủ nghĩa dân tộc chống lại sự cai trị của Pháp ở Đông
Dương, ông Hồ Chí Minh đã gặp các thành viên của “Inquiry” [10] trong tư cách
là cố vấn Tổng thống Wilson tại Hội nghị Hòa Bình Paris (*) sau Thế chiến thứ
I. Ông Grosse viết:

Sau khi chiến tranh Triều Tiên kết thúc năm 1953, Hội đồng [Đối ngoại]
trở lại thẩm tra nghiêm túc về Đông Dương, nơi mà chế độ thực dân Pháp xung đột
với các lực lượng du kích cuộc cách mạng của một người tự mô tả là theo chủ
nghĩa Mác, tên là Hồ Chí Minh, người mà các thành viên của Inquiry đã gặp lần
đầu với tư cách là một trong những nguyên cáo dân tộc mà ít người biết đến tại
Hội nghị Paris hơn ba thập kỷ trước đó [11].

Tháng 11 năm 1953 một nhóm nghiên cứu của Hội
đồng Đối ngoại [Hoa Kỳ] cho ra báo cáo đầu tiên về Đông Dương, nói rằng cuộc
nổi loạn của Việt Minh không đại diện cho mối đe dọa cộng sản. Bản báo cáo nói
về cuộc nổi dậy chống Pháp ở Đông Dương như sau:

Chiến tranh “lớn hơn bất cứ điều gì” mà các nhà tư tưởng chính sách cho
là như thế…. Thật là sai lầm khi xem lực lượng Việt Minh của ông Hồ chỉ đơn
giản là bảo vệ sự chuyển tiếp của chủ nghĩa cộng sản trên thế giới, không có gì
trong thiết kế của Moscow có thể giải thích quy mô và bạo lực của phiến quân
Việt Nam. Chủ nghĩa Mác “ít liên quan tới cuộc cách mạng hiện nay”, thay vào đó
là chủ nghĩa dân tộc bị dồn nén, rõ ràng và đơn giản. Với Pháp mất uy tín do
quá khứ thuộc địa của mình, cơ hội đã mở ra cho Hoa Kỳ lèo lái những người đi
theo ông Hồ ra khỏi điều không liên quan đến chủ nghĩa Mác [12].

Mặc dù ông Grosse không đề nghị bất cứ điều
gì về vấn đề này, nhưng có khuynh hướng giả thuyết rằng ông Hồ đã được phát
hiện từ năm 1919, trong số những nhà cách mạng thuộc địa khác ở Hội nghị Hòa
Bình Paris và được giữ ở đó để dành cho tương lai, theo chiến lược tầm xa biện
chứng của các đầu sỏ chính trị [13].

Chiến lược tầm xa biện chứng đó có thể không
bao gồm bất cứ điều gì ngoại trừ việc cho phép ông Hồ có được quyền lực trên
toàn cõi Việt Nam trong quá trình theo đuổi nhiều thập kỷ về những gì mà nhiều
chuyên gia quân sự và bảo thủ thời đó gọi là một cuộc “chiến không giành chiến
thắng” tại Việt Nam [14].

Trong khi những người Mỹ bảo thủ như thế xem
“cuộc chiến không giành chiến thắng” tại Việt Nam là kết quả sự lật đổ cộng sản
của Hoa Kỳ do mục đích phá hoại quân sự, tinh thần và kinh tế của Mỹ. Lập luận
của tôi là chính sách “không giành chiến thắng” đã theo đuổi, cho phép những
người cộng sản (những người theo chủ nghĩa dân tộc) đưa Việt Nam thành lập một
nhà nước thống nhất, một cuộc chiến “không giành chiến thắng” kéo dài như thế
làm kiệt quệ đất nước mới [thành lập] để Việt Nam có nghĩa vụ tìm kiếm uy tín
và phát triển kinh tế thông qua [các tổ chức] tài chính quốc tế.

Do đó, Việt Nam, giống như hầu hết các chính
phủ phi thuộc địa khác: đi từ tình trạng thuộc địa châu Âu tới chủ nghĩa thực
dân mới về tài chính quốc tế và các tổng công ty xuyên quốc gia. Nếu thuyết
biện chứng này nghe quá cường điệu hay giống như là một “âm mưu”, có
lẽ là do châu Âu đã mệt mỏi sau cuộc chiến, ảnh hưởng bởi sự giúp đỡ trong Kế
hoạch Marshall (**) của Hoa Kỳ, đó là lý do “viện trợ” đã bị khối Xô
Viết từ chối; Liên Xô nhìn vấn đề này như là châu Âu bị tư bản toàn cầu có căn
cứ ở Hoa Kỳ chinh phục.

Dù các động cơ là gì, kết quả là loại Pháp
khỏi Đông Dương, và bất chấp lý luận của Việt Minh về cuộc cách mạng, những gì
[xảy ra] trong những năm gần đây dường như không lay chuyển Việt Nam gia nhập
nền kinh tế thế giới.

Đường đi đến toàn cầu hóa và kinh tế thị trường

IMG_1403-250.jpg
Chủ tịch Ngân hàng xuất nhập khẩu Hoa Kỳ Fred P. Hochberg gặp gỡ Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng, hôm 14-06-2010. Photo courtesy of US Ex-Im Bank

Điều nói trên chỉ là phỏng đoán? Sự việc thật
ra là: (1) Việt Nam đã từng là nước chủ yếu nông nghiệp, các cơ sở nông nghiệp
bị cuộc chiến tranh kéo dài tàn phá, và (2) Việt Nam đang bị cạn kiệt, đã tìm
kiếm trợ giúp trong kinh tế thị trường và tài chính nợ.

Việt Nam không phải là quốc gia đầu tiên rơi
vào chiến tranh với lý do chính là áp đặt “nền kinh tế thị trường”.
Một trong những đòi hỏi quan trọng về hòa bình chống lại Serbia của lực lượng
NATO là một “nền kinh tế thị trường” được ban hành thay cho quy hoạch nhà nước,
đặc biệt ở khu vực Kosvo giàu khoáng sản. Và dĩ nhiên “các cuộc cách mạng màu”
tàn phá khối Xô Viết cũ và những nơi khác trong việc lật đổ chế độ, thực hiện
các chính sách hỗ trợ “một xã hội mở” – tức là mở cửa khai thác bằng đồng vốn
quốc tế.

Do đó, tại Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng
sản Việt Nam hồi tháng 12 năm 1986, các nhà cải cách do ông Nguyễn Văn Linh dẫn
đầu đã làm một việc táo bạo và lao vào cải cách thị trường tự do, được gọi là
Đổi Mới, thiết lập cái gọi là “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ
nghĩa” [15]. Trong khi điều này có thể được xem như “Chính sách kinh tế mới”
của Lenin ở Liên Xô trong thập niên 1920, Liên Xô dễ dàng lao vào chế độ thực
dân tài phiệt do Trotsky nắm quyền chứ không phải là Stalin và dĩ nhiên là cuối
cùng Liên Xô đã thua.

Có lẽ cách dễ nhất để đánh giá mức độ của một
chính phủ lệ thuộc vào đồng vốn quốc tế là xem các báo cáo của các tổ chức như
Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Ngân hàng Thế giới nói về Việt Nam
như sau:

… Trong thời gian này, quan hệ giữa Ngân hàng Thế giới với Việt Nam
cũng đã hoàn thiện và phát triển đáng kể. Chiến lược Đối tác của đất nước hỗ
trợ năm tài khóa 2007-2011, hỗ trợ Kế hoạch Phát triển kinh tế xã hội của Chính
phủ năm 2006-2010, trong đó đưa ra quá trình chuyển đổi, hướng tới nền kinh tế
thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, với mục tiêu là nước có thu nhập
trung bình vào năm 2010 [16].

Thật là sai lầm khi xem lực lượng Việt Minh của ông Hồ chỉ đơn giản là bảo vệ sự chuyển tiếp của chủ nghĩa cộng sản trên thế giới, không có gì trong thiết kế của Moscow có thể giải thích quy mô và bạo lực của phiến quân Việt Nam.

Trích báo cáo đầu tiên về Đông Dương

“Kinh tế thị trường theo định hướng xã hội
chủ nghĩa” [tại Việt Nam] được cho là hình thức kinh tế được ưa chuộng nhất.
Ngân hàng Thế giới nói rằng:

Việt Nam ngày càng hội nhập với nền kinh tế thế giới và đã trở thành
thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới …. Tăng trưởng gần đây là do tầm
quan trọng ngày càng tăng của khu vực kinh tế tư nhân. Vai trò của khu vực kinh
tế nhà nước trong hoạt động sản xuất đã giảm rõ rệt: từ 52% trong năm 1995 đến
dưới 35% trong năm 2006 …

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng gần gấp đôi, lên 20,3 tỷ đô la,
trong khi tổng số vốn ở thị trường chứng khoán đạt 43% GDP vào cuối năm 2007,
so với 1,5% hai năm trước đó. Mức nợ công là 42% GDP là vừa phải và được coi là
bền vững.

Mức nợ này tương tự như các nước ASEAN. Phân tích về nợ bền vững (DSA)
gần đây nhất của Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) phù hợp với
đầu tư và triển vọng tăng trưởng của kế hoạch phát triển kinh tế xã hội (SEDP).
Ước tính nợ công và công nợ do chính phủ bảo lãnh tăng từ 44% GDP trong năm
2007 lên khoảng 51% vào năm 2016 và giảm nhẹ sau đó. Việc gia tăng này mặc dù
nghiêm trọng, nhưng vẫn được xem nằm trong giới hạn có thể quản lý, đặc biệt là
hơn phân nửa số nợ nằm trong điều kiện vay ưu đãi cao [17].

Trong khi cái nhìn tổng quan của Ngân hàng
Thế giới về Việt Nam là tích cực như tư nhân hóa nền kinh tế và gia tăng nợ
công đến hơn ½ GDP, nhưng đó là một ví dụ rất chi tiết về một nhà nước xã hội
chủ nghĩa đã nhanh chóng hội nhập vào hệ thống kinh tế thế giới như thế nào,
sau khi bị tàn phá do “cuộc chiến không giành chiến thắng” trong nhiều thập kỷ.

Ghi chú:

[1] K
R Bolton, “Russia and China: an Approaching Conflict?,” The Journal of Social,
Political, and Economic Studies, Washington, Summer 2009, Vol. 34, No. 2,
164-165.

[2] Ibid., 162.

[3] Ibid.

[4] K R Bolton, “Sino-Soviet-US Relations and
the 1969 Nuclear Threat,” Foreign Policy Journal, May 17, 2010. K R Bolton,
op.cit., 2009, 156-158.

[5] Robert A Scalapino., “The Political
Influence of the USSR in Asia,” in Donald S. Zagoria, ed., Soviet Policy in
East Asia (New Haven, Yale University Press, 1982), 71.

[6] Bruce Elleman, “Sino-Soviet Relations and
the February 1979 Sino-Vietnamese Conflict,” 20 April 1996

<http://www.vietnam.ttu.edu/vietnamcenter/events/1996_Symposium/96papers/elleviet.htm&gt;

Vietnam Center, Texas Tech University,
http://www.vietnam.ttu.edu/vietnamcenter/

[7] Elleman, ibid.

[8] Elleman, ibid.

[9] Peter Grosse, “The First Transformation,”
Continuing The Inquiry: The Council on Foreign Relations from 1921 to 1996,
(New York: Council on Foreign Relations, 2006). The entire book can be read
online at: Council on Foreign Relations:
http://www.cfr.org/about/history/cfr/index.html

[10] “The Inquiry” was the predecessor of the
Council on Foreign Relations, which Grosse refers to as the USA’s “foreign
policy establishment.” (sic).

[11] Peter Grosse, op.cit.

[12] Ibid.

[13] K R Bolton, “Socialism, Revolution, and
Capitalist Dialectics,” Foreign Policy Journal, May 4, 2010.

[14] For example: Maj. Arch E Roberts,
Victory Denied: Why Your Son Faces Death in ‘No-Win Wars’” (Colorado: Committee
to Restore the Constitution, 1972).

[15] Geoffrey Murray, (1997) Vietnam: Dawn of a New Market (New
York: St. Martin’s Press, 1979), 24-25.

[16] The World Bank: “Vietnam: Country
Brief”,
http://web.worldbank.org/WBSITE/EXTERNAL/COUNTRIES/EASTASIAPACIFICEXT/VIETNAMEXTN/0,,contentMDK:20212080~menuPK:387573~pagePK:1497618~piPK:217854~theSitePK:387565,00.html
(Accessed 28 February 2010).

[17] Ibid.

(*) Hội nghị Hòa bình Paris 1946 từ ngày 29
tháng 6 đến ngày 15 tháng 10 năm 1946.

(**) Marshall Plan: là kế hoạch quan trọng
của Hoa Kỳ nhằm tái thiết và thiết lập một nền tảng vững chắc cho các quốc gia
Tây Âu, đẩy lui chủ nghĩa cộng sản sau Đệ nhị Thế chiến.

Nguồn:
http://www.foreignpolicyjournal.com/2010/06/10/has-vietnam-lost-the-struggle-for-freedom/

Đằng sau sự lạnh nhạt quân sự là một Trung Quốc mạnh mẽ hơn


2010-06-24

Nếu bất cứ người nào đã từng nghi ngờ sự trao đổi gay gắt tại hội nghị Singapore cuối tuần qua thì đã rõ: quan hệ giữa quân đội Mỹ và Trung Quốc đang đóng băng rất sâu.

AFP PHOTO / Rod LAMKEY JR

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert M. Gates (P) trò chuyện với Đô đốc Mike Mullen, tham mưu trưởng liên quân trong một phiên điều trần về dự toán ngân sách cho Bộ Quốc phòng, tại Washington, DC hôm 16/6/2010.

Mỹ – Trung khẩu chiến

Điều thực sự nghi ngờ là, liệu có những vấn đề gai góc trong mối quan hệ rộng hơn giữa hai quốc gia, hay là điềm gở trong tương lai.

Những lời nói được tuôn ra như loạt súng bắn được thể hiện hôm thứ bảy tại Đối thoại Shangri-La, hội nghị các Bộ trưởng quốc phòng của 28 quốc gia Châu Á – Thái Bình Dương tham dự, ngoài những nước khác là ông Robert M. Gates, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ và tướng Mã Hiểu Thiên, Phó Tham mưu trưởng của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc.

Tướng Mã đã cho vào bài phát biểu của mình những nhát đâm ngụy trang công khai nhắm vào Hoa Kỳ. Ông nói: “Tâm lý chiến tranh lạnh vẫn còn tồn tại” vào các quốc gia vô danh, với “mối đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế và can thiệp vào công việc nội bộ các nước khác” – ngôn ngữ ám chỉ việc Mỹ bán vũ khí cho Đài Loan, mà Trung Quốc xem là lãnh thổ của mình.

Trong bài phát biểu, ông Gates thậm chí còn thẳng thừng hơn. Ông nói, quan hệ quân sự giữa quốc gia là “trì hoãn” trong vấn đề Đài Loan, mặc dù việc bán vũ khí cho Đài Loan “đã xảy ra trong thực tế nhiều thập kỷ qua”. Trung Quốc không thể thay đổi thực tế đó, ông nói – và trong mọi trường hợp, Washington không không hỗ trợ Đài Loan độc lập, tách khỏi đại lục.

Nhiều viên chức chính phủ Hoa Kỳ tin rằng tình hình hiện nay là một trong những điều quân đội có đồ chơi trong tay và tự đề cao về vấn đề này.

Ông Michael Swaine

Việc đấu khẩu đó diễn ra sau khi Trung Quốc chính thức từ chối đề nghị của ông Gates đến Bắc Kinh cuối tuần qua trong chuyến thăm hiện tại của ông ở châu Á. Và cũng theo sau bài thuyết trình của một đô đốc Trung Quốc, bất ngờ đay nghiến về quyền bá chủ của “Mỹ”, trong một phiên họp riêng cuối tháng qua về Đối thoại Kinh tế và Chiến lược tại Bắc Kinh, đã làm cho các nhà ngoại giao Mỹ tức giận, là dấu hiệu cho thấy hai thái độ khác nhau giữa các nhà lãnh đạo dân sự và quân sự Trung Quốc.

Nếu tách riêng ra, các sự kiện có ý nghĩa rất ít. Các chuyên gia nói về quan hệ quân sự Trung – Mỹ thường xuyên sử dụng những từ như “chim hải âu lớn” và “cối đá xay” để mô tả tác động về sự hợp tác giữa Washington và Bắc Kinh. Đôi khi, sự ngờ vực và thù địch xác định các cuộc họp giữa các lãnh đạo quân sự.

Nhưng có một điều: sự quyết đoán ngày càng gia tăng trong các vấn đề kinh tế và ngoại giao toàn cầu của lãnh đạo Trung Quốc. Những người ủng hộ một Trung Quốc cứng rắn và theo chủ nghĩa dân tộc nhiều hơn đã đạt được ảnh hưởng trong 6-12 tháng qua, và ảnh hưởng của họ đang được cảm nhận nhiều hơn trong các chính sách cả ở trong lẫn ngoài nước.

Đối với một số nhà phân tích phương Tây, cho rằng phương pháp tiếp cận cơ bản của chính phủ Obama đối với Trung Quốc – làm cho Trung Quốc trở thành một đối tác có trách nhiệm trong các vấn đề toàn cầu bằng cách cho Bắc Kinh có vị trí lớn hơn trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế – cần phải xem lại.

Ông David Shambaugh, một chuyên gia hàng đầu về Đảng Cộng sản và quân đội Trung Quốc tại Đại học George Washington, nói: “Hiện có thay đổi lớn thực sự và thái độ cứng rắn trong suy nghĩ của chính phủ Trung Quốc về mối quan hệ với Hoa Kỳ trong vòng sáu hoặc tám tháng qua. Trong bối cảnh này, Washington cần phải tiến hành đánh giá toàn bộ chính sách và chiến lược Trung Quốc của mình, từ trên xuống dưới”.

Bà Stephanie Kleine-Ahlbrandt, chuyên gia phân tích Bắc Kinh, thuộc International Crisis Group cho biết, hy vọng của chính phủ Obama sẽ hợp tác với Bắc Kinh “đã lạc quan hơn so với kịch bản hiện tại” (*).

“Trung Quốc và Mỹ tiếp tục có các giá trị, mục tiêu và khả năng cơ bản khác nhau”. Bà nói, dẫn giải rằng Trung Quốc bị thúc giục, miễn cưỡng đi tìm sự thật trong vụ đánh chìm tàu Nam Hàn, một cuộc tấn công mà điều tra quốc tế xác định đó là việc làm của Bắc Hàn.

Chính sách của Trung Quốc

000_Hkg3257667-200
Một thành viên của đội tuần tra an ninh Hoa Kỳ trên tàu sân bay USS Nimitz trong chuyến đến Hồng Kông vào ngày 17 tháng 2 năm 2010. AFP PHOTO / MIKE CLARKE

Dấu hiệu về chính sách cứng rắn của Trung Quốc có thể dễ dàng tìm thấy. Gần đây, Bắc Kinh đã thông qua một lập trường mới, cứng rắn hơn trong các tuyên bố về các quần đảo tranh chấp ở Biển Đông, nói với Philippines, Indonesia, Việt Nam và các nước tranh chấp khác rằng, các hòn đảo là “lợi ích cốt lõi”, vượt ra khỏi giải quyết về các đàm phán trong khu vực.

Đòi hỏi của Trung Quốc là quốc gia mặc cả với quốc gia, để Bắc Kinh có được thuận lợi hơn trong quyết định đối với các nước láng giềng nhỏ hơn.

Hoa Kỳ không thành công nhiều trong việc thuyết phục Trung Quốc trở thành đối tác ở Liên Hiệp Quốc, không chỉ chống lại Bắc Triều Tiên mà còn chống lại chương trình hạt nhân của Iran. Các doanh nghiệp Mỹ và châu Âu đang ngày càng bối rối hơn về điều mà họ xem như sự hạn chế không công bằng về khả năng của họ, để cạnh tranh với các công ty nội địa trong thị trường rộng lớn và ngày càng phát triển của Trung Quốc, mặc dù (có được) sự cam đoan của Trung Quốc.

Tuy nhiên, cũng không rõ về sự thù địch của quân đội Trung Quốc phản ánh chiến lược ngoại giao của Trung Quốc, ngoại trừ ra lệnh cho nó. Thật vậy, một phần của vấn đề là không ai bên ngoài Bắc Kinh chắc chắn rằng làm thế nào để các nhà lãnh đạo Trung Quốc thảo ra chính sách ngoại giao của họ đối với Hoa Kỳ – một quốc gia, bằng sự đo lường của Bắc Kinh, thì xa và ở trên đối tác quan trọng nhất của họ.

Ông Gates là một chính khách lớn và luôn thẳng thắn. Có thể ngôn ngữ của ông cũng quá thẳng thắn nên về mặt ngoại giao, các lãnh đạo Trung Quốc có thể thấy hơi khó để đón nhận.

Ông Shi Yinhong

Ông Michael Swaine, một học giả Trung Quốc thuộc Quỹ Carnegie cho Hòa bình Quốc tế, nói: “Nếu không muốn nói là tất cả, nhiều viên chức chính phủ Hoa Kỳ tin rằng tình hình hiện nay là một trong những điều quân đội có đồ chơi trong tay và tự đề cao về vấn đề này. Đảng Cộng sản và bộ máy ngoại giao thật sự không hài lòng về nó, nhưng phải đi cùng với nó”.

Không ai biết được đâu là sự thật. Chính sách đối với Hoa Kỳ – đặc biệt là chính sách quân sự – được bịa ra trong một hộp đen ở các cấp cao nhất của chính phủ, ông Swaine và những người khác nói.

Ông Gates có thể đã cho các quan chức quân sự Trung Quốc một cái tát cần thiết vào mặt với những nhận xét của ông ở Singapore. Hoặc có thể ông đã đi quá giới hạn của mình.

Ông Shi Yinhong, chuyên gia về quan hệ Trung – Mỹ tại Đại học Renmin ở Bắc Kinh, nói: “Ông Gates là một chính khách lớn và luôn thẳng thắn. Có thể ngôn ngữ của ông cũng quá thẳng thắn nên về mặt ngoại giao, các lãnh đạo Trung Quốc, đặc biệt là các tướng Trung Quốc, có thể thấy hơi khó để đón nhận”.

Jonathan Ansfield viết bài với nghiên cứu do Li Bibo đóng góp.
——–
(*) Ý của bà Stephanie: Chính phủ Obama hy vọng hợp tác với Trung Quốc, tạo nhiều cơ hội hơn cho Trung Quốc trên trường quốc tế, để TQ giúp Hoa Kỳ giải quyết các vấn đề thế giới, nhưng có lẽ Hoa Kỳ đã quá lạc quan so với những gì đang diễn ra trên thực tế.

Nguyên nhân gây sóng gió trong quan hệ Trung – Mỹ (phần 2)


2010-06-17

Kỳ này, chúng tôi sẽ trình bày một số căng thẳng giữa hai nước Mỹ – Trung, cũng như tìm hiểu xem đâu là nguyên nhân chính gây nên căng thẳng trong mối quan hệ ấy.

AFP PHOTO / POOL / Saul Loeb

Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton phát biểu trong một cuộc họp báo sau khi kết thúc vòng thứ hai Đối thoại Kinh tế và Chiến lược Mỹ-Trung Quốc tại Bắc Kinh hôm 25/05/2010.

Bán vũ khí: chẳng có gì mới!

Có lẽ nhiều người đã hiểu lý do vì sao ông Robert Gates có thái độ cứng rắn đối với Trung Quốc tại Hội nghị Shangri-La hôm 5 tháng 6 vừa qua.

Ông Gates cho rằng, Trung Quốc không hề xa lạ về việc Hoa Kỳ bán vũ khí cho Đài Loan, bởi vì Hoa Kỳ đã thực hiện điều này hơn ba thập kỷ qua. Kể từ khi Hoa Kỳ thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc hồi năm 1979, từ đó đến nay Hoa Kỳ đã liên tục bán vũ khí cho Đài Loan 53 lần.

Không những thế, trong chuyến viếng thăm Trung Quốc hồi tháng 11 năm ngoái, Tổng thống Obama cũng đã thông báo với phía Trung Quốc rằng, Hoa Kỳ sẽ bán vũ khí cho Đài Loan, và Trung Quốc đã biết trước điều đó.

Ông Gates cho biết, mặc dù Hoa Kỳ và Trung Quốc bất đồng về việc bán vũ khí cho Đài Loan, thế nhưng Hoa Kỳ đã thực hiện việc này trong nhiều thập kỷ qua và rằng điều này đã không ngăn cản Trung Quốc xích lại gần hơn với Hoa Kỳ, trong các mối quan hệ chính trị, kinh tế và các vấn đề an ninh khác mà hai nước cùng quan tâm.

Tất cả mọi người đều rõ, hơn 30 năm qua kể từ khi bình thường hóa, việc gián đoạn quan hệ quân sự của chúng tôi với Trung Quốc sẽ không thay đổi chính sách của Hoa Kỳ đối với Đài Loan.

Ông Robert Gates

Ông Gates cũng cho biết thêm, việc đình chỉ các cuộc trao đổi quân sự cao cấp giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc chỉ là tạm thời, và điều đó không làm thay đổi chính sách của Mỹ đối với Đài Loan. Ông nói: “Chỉ trong lĩnh vực quân sự giữa hai nước, các vấn đề an ninh quan trọng bị trì hoãn, nói thẳng ra đó chỉ là tin cũ. Tất cả mọi người đều rõ, hơn 30 năm qua kể từ khi bình thường hóa, việc gián đoạn quan hệ quân sự của chúng tôi với Trung Quốc sẽ không thay đổi chính sách của Hoa Kỳ đối với Đài Loan”.

Có lẽ việc sử dụng lời lẽ cứng rắn của ông Robert Gates trong bài phát biểu tại hội nghị dành cho các Bộ trưởng Quốc phòng của 28 nước châu Á – Thái Bình Dương ở Singapore vừa qua, ngoài lý do Trung Quốc bất ngờ tạm hoãn chuyến đi của ông Gates, còn có một nguyên nhân khác.

Giới chuyên gia cho rằng, chính bài phát biểu của ông Quan Du Phi, Thiếu tướng, Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) trong một phiên họp riêng về Đối thoại Kinh tế và Chiến lược tại Bắc Kinh hồi cuối tháng 5, đã làm cho các viên chức Hoa Kỳ bực bội. Trong bài phát biểu hôm 24 tháng 5 vừa qua, ông đã bất ngờ tấn công Hoa Kỳ bằng những lời lẽ cay nghiệt.

Ông Quan Du Phi nói với các viên chức Hoa Kỳ rằng, trong quan hệ giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, mọi chuyện đi đúng đường chính là nhờ Trung Quốc, còn những chuyện đi sai đường là lỗi ở Hoa Kỳ. Ông đã lên án Hoa Kỳ đang thực hiện quyền bá chủ, bao vây Trung Quốc bằng những đồng minh chiến lược. Không những thế, ông còn cáo buộc Hoa Kỳ bán vũ khí cho Đài Loan chứng tỏ rằng Hoa Kỳ xem Trung Quốc như kẻ thù.

Khéo ngụy trang

Trái ngược với những lời lẽ “dao to búa lớn” của ông Quan Du Phi, trong bài phát biểu tại Singapore hôm 5 tháng 6 vừa qua, ông Mã Hiểu Thiên, Phó Tham mưu trưởng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, đã khéo léo hơn. Ông Mã không hề đề cập trực tiếp đến Hoa Kỳ chính là gây ra nguyên nhân gây căng thẳng trong quan hệ giữa hai nước, thế nhưng ngụy trang đằng sau những lời phát biểu của mình, là những “nhát dao” mà ông Mã Hiểu Thiên đã công khai nhắm thẳng vào Hoa Kỳ.

chinese-missile-frigate-250
Lực lượng đặc biệt hải quân Trung Quốc trên boong tàu chiến tên lửa hôm 13/04/2010. AFP photo

Ông nói: “Tâm lý chiến tranh lạnh vẫn còn tồn tại, như thường được thấy qua các nỗ lực tăng cường liên minh quân sự, thông qua công nghệ mới, đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế và can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác”.

Có lẽ không khó khăn lắm để mọi người nhận ra rằng, những lời nói mà ông Mã Hiểu Thiên đã sử dụng, rõ ràng là đang nhắm vào Hoa Kỳ, do từ trước tới nay Trung Quốc luôn nói rằng việc Hoa Kỳ bán vũ khí cho Đài Loan là can thiệp vào công việc nội bộ của Trung Quốc.

Khi được hỏi lý do giảm bớt các cuộc gặp gỡ quân sự giữa Hoa Kỳ và Trung quốc, ông Mã Hiểu Thiên lý luận rằng, chỉ có các chuyến thăm cao cấp giữa hai nước bị đình chỉ.

Tâm lý chiến tranh lạnh vẫn còn tồn tại, như thường được thấy qua các nỗ lực tăng cường liên minh quân sự, thông qua công nghệ mới, đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế và can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác.

Ô. Mã Hiểu Thiên

Ngoài ra, ông Mã còn đề cập đến tầm quan trọng trong “quan hệ đối tác đôi bên cùng có lợi” và tìm kiếm “an ninh thông qua hợp tác”. Thế nhưng, có lẽ mọi người đều nhận ra rằng, đó chỉ là những lời nói đầu môi, và chẳng ai xem các lời nói đó của ông Mã Hiểu Thiên là nghiêm túc, bởi vì những lời nói êm dịu đó khác xa với thực tế. Ông nói rằng, Trung Quốc muốn tìm kiếm quan hệ hợp tác với Hoa Kỳ, cùng lúc với việc Trung Quốc đã làm mất mặt Hoa Kỳ khi bất ngờ đình chỉ chuyến đi của ông Robert Gates.

Đâu là nguyên nhân chính?

Những lời nói đã được hai viên chức cao cấp quân sự Trung – Mỹ nhắm nhau vào hôm thứ bảy ngày 5 tháng 6 vừa qua cho thấy, quan hệ quân sự giữa hai nước thật sự đang có vấn đề.

Như phát biểu của ông Robert Gates, việc bán vũ khí cho Đài Loan từ trước tới nay chỉ là chuyện cũ, không thể xem đó là nguyên nhân gây ra căng thẳng trong quan hệ hai nước. Phải chăng bên trong còn có nguyên nhân sâu xa nào khác?

Có lẽ mọi người đều nhận ra rằng, trong thời gian qua Trung Quốc hiện đại hóa quân sự, tăng cường các cuộc tập trận trên biển với mục đích phô trương sức mạnh, đã làm cho Trung Quốc ngày càng quyết đoán hơn trong các vấn đề kinh tế và ngoại giao trên toàn cầu. Giới chuyên gia cho rằng, gần một năm qua, những người theo chủ nghĩa dân tộc, ủng hộ chính sách cứng rắn hơn ở Trung Quốc đã đạt được một số ảnh hưởng và những ảnh hưởng đó thể hiện trong các chính sách đối nội và đối ngoại của Bắc Kinh.

Trong bối cảnh này, Washington cần phải tiến hành đánh giá toàn bộ các chính sách và chiến lược của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc, từ trên xuống dưới.

Ô. David Shambaugh

Các chính sách cứng rắn của Bắc Kinh trong thời gian qua có thể thấy qua việc Trung Quốc thông qua một lập trường cứng rắn hơn đối với Đài Loan, cũng như trong việc tranh chấp các quần đảo ở Biển Đông, khi Trung Quốc tuyên bố rằng, Biển Đông là “mối quan tâm hàng đầu” của họ.

Phải chăng vì thế mà Trung Quốc muốn áp dụng một lập trường cứng rắn hơn đối với Hoa Kỳ trong thời gian gần đây?

Để thay lời kết, chúng tôi xin mượn lời của ông David Shambaugh, chuyên gia nghiên cứu về Đảng Cộng sản và Quân đội Trung Quốc tại Đại học George Washington, ông nói: “Hiện đang có sự thay đổi lớn và thái độ cứng rắn trong suy nghĩ của chính phủ Trung Quốc về mối quan hệ với Hoa Kỳ trong vòng sáu hoặc tám tháng qua. Trong bối cảnh này, Washington cần phải tiến hành đánh giá toàn bộ các chính sách và chiến lược của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc, từ trên xuống dưới”.

Đánh mất châu Á?


2010-06-07

Sau ba thập kỷ hòa bình và ổn định ở châu Á-Thái Bình Dương, người ta có xu hướng quên đi khả năng xảy ra căng thẳng và xung đột trong khu vực quan trọng này.

AFP photo

Một chiếc máy bay của hải quân Hoa Kỳ đang đáp xuống tàu sân bay USS Kitty Hawk.

Tuy nhiên, phá vỡ hoà bình sau cuộc chiến Việt Nam là nỗi lo lắng hợp pháp của chính phủ Hoa Kỳ. Lực lượng quân sự Mỹ đóng vai trò quan trọng ở châu Á trong tương lai gần. Những câu hỏi cho các nhà lãnh đạo quân sự của chúng ta là sứ mệnh ở châu Á là gì, các lực lượng nào là cần thiết và làm thế nào để chúng ta chiến đấu bên cạnh các đồng minh của chúng ta?

Việc tăng trưởng kinh tế đáng chú ý của “các con hổ châu Á” như Đài Loan, Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc và gần đây là Trung Quốc, đã không hoàn toàn vô nghĩa. Mặc dù áp lực chính trị trong nước, các tổng thống Mỹ đã quyết định thời gian và một lần nữa tiếp tục triển khai lực lượng quân sự đáng kể trong khu vực. Sự hiện diện quân sự này được gọi là chiếc dù an ninh hoặc “không khí”, thiết lập điều kiện cho các thành phần ưu tú châu Á tham gia vào chính sách dẫn đến tăng trưởng kinh tế và các mối quan hệ hòa bình một cách tương đối.

Nếu không có nước Mỹ bảo đảm, các nước châu Á có khả năng sẽ tham gia vào các cuộc chạy đua vũ trang tốn kém – có thể xảy ra chiến tranh – và nhiều nước sẽ phải cố gắng để có được vũ khí hạt nhân.

Nếu không có nước Mỹ bảo đảm, các nước châu Á có khả năng sẽ tham gia vào các cuộc chạy đua vũ trang tốn kém – có thể xảy ra chiến tranh – và nhiều nước sẽ phải cố gắng để có được vũ khí hạt nhân. Việc triển khai các lực lượng tiền tuyến của Mỹ và mạng lưới liên minh đã làm công việc giúp người châu Á có được khoảng thời gian 30 năm thịnh vượng.

Tuy nhiên, hiện đang có một số phát triển đe dọa sự ổn định trong khu vực.

Trước tiên, Bắc Hàn có các tên lửa thông thường có thể phá hủy Seoul và gây thiệt hại nặng cho Nhật Bản. Họ cũng có một kho vũ khí hạt nhân. Hơn nữa, chế độ độc tài tàn bạo của Bắc Hàn có thể đột nhiên sụp đổ: bỏ lại Hàn Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ, và Trung Quốc tranh giành để tìm kiếm và bảo đảm vũ khí hủy diệt hàng loạt được an toàn, trong khi tìm cách ổn định chính phủ.

Sức mạnh quân sự Trung Quốc

Các nước đồng minh và Trung Quốc có quan niệm rất khác nhau về sự an toàn trên bán đảo Triều Tiên. Trung Quốc theo đuổi những mục tiêu riêng của họ trong cuộc khủng hoảng là hệ quả của mọi rắc rối.

Thứ hai, Đông Nam Á gánh chịu tai họa về Hồi giáo cực đoan. Quân đội Hoa Kỳ có thể được gọi đến để giúp đáp trả các cuộc tấn công khủng bố – như họ đã và đang làm mà không cần nhiều lực lượng trong gần một thập kỷ qua ở Philippines.

Và sau đó là Trung Quốc, nước có tiềm năng lớn nhất về phá hoại hòa bình châu Á-Thái Bình Dương. Trung Quốc đã chuyển các nguồn lực kinh tế của mình thành một kho quân sự phát triển và ấn tượng. Lực lượng tên lửa hành trình và tên lửa đạn đạo của lực lượng pháo binh thứ hai của Trung Quốc đặt ra một mối đe dọa cụ thể đối với Hoa Kỳ và ưu thế trên không của đồng minh trong “chuỗi đảo đầu tiên” (Nhật Bản, Đài Loan, và Philippines).

Tên lửa Trung Quốc có thể phá hủy nghiêm trọng và hạ hầu hết các loại máy bay của Mỹ ở các căn cứ quan trọng nhất tại Thái Bình Dương – Kadena ở Nhật Bản. Các lực lương pháo binh thứ hai đang tinh luyện một tên lửa đạn đạo chống tàu trên đất liền. Trung Quốc có thể sớm có khả năng thiết lập cả ưu thế trên không tại chỗ lẫn bắn trúng bất kỳ con tàu nào đến từ Tây Thái Bình Dương.

maybay-tq--200
May bay phản lực J-10 của Trung Quốc. AFP photo

Trung Quốc đang phát triển một hạm đội tàu ngầm chạy bằng dầu diesel và hạt nhân. Các loại tàu diesel có thể ở dưới biển lâu hơn, mang theo kho vũ khí đủ để thực hiện một cuộc phong tỏa Đài Loan và đe dọa các con tàu nổi trên mặt nước trong và xung quanh duyên hải Trung Quốc. Với một căn cứ mới ở đảo Hải Nam, lực lượng tàu ngầm hạt nhân Trung Quốc dễ dàng đi vào Biển Đông và eo biển Malacca.

Do lịch sử Trung-Ấn Độ thiếu tin tưởng, và phụ thuộc vào Mỹ ở Ấn Độ Dương về thương mại năng lượng, khả năng Trung Quốc gây ra tổn hại ở những chỗ quan trọng nhất tại Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương là một phát triển chiến lược quan trọng.

Một số chuyên gia cho rằng chỉ vì Trung Quốc phát triển những khả năng này, không có nghĩa là họ sẽ sử dụng nó để đe doạ Mỹ hoặc các đồng minh của Mỹ. Ấn Độ cũng vậy, theo logic, đang tiến hành một chương trình hiện đại hóa quân sự. Điều này đơn giản là những gì các cường quốc làm. Nhưng vấn đề đó là đặc tính của một cường quốc đang lên. Những nước thoải mái khẳng định rằng “tất cả các cường quốc đều làm điều đó” nên xem xét lại đòi hỏi của những người theo chính sách trả thù của Trung Quốc, các hoạt động quốc tế gây phiền hà và động lực nội tại của họ.

Ngay cả với một chính phủ Đài Loan đã từ bỏ bất kỳ tuyên bố độc lập nào, Trung Quốc cũng không từ bỏ quyền sử dụng vũ lực chống lại đảo quốc này. Trung Quốc tiếp tục không ngừng gia tăng lực lượng quân sự trên khắp eo biển chỉ với mục đích “ngăn chặn sự độc lập của Đài Loan”.

Hải quân Trung Quốc gia tăng tần số đi vào vùng biển tranh chấp ở Biển Đông và Biển Hoa Đông. Ấn Độ thấy chính mình bị bao quanh bởi một mạng lưới các phương tiện hàng hải Trung Quốc. Tàu hải quân Mỹ đã bị sách nhiễu bởi các tàu Trung Quốc trong khi làm nhiệm vụ hợp pháp ở hải phận quốc tế. Quân đội Trung Quốc quan tâm đến việc mở rộng quyền kiểm soát chu vi hàng hải của họ và giữ Hoa Kỳ ở ngoài. Hải quân Hoa Kỳ đi vào các vùng biển này giúp các đồng minh của chúng ta yên tâm trong suốt 30 năm hòa bình ở châu Á.

Trung Quốc, nước có tiềm năng lớn nhất về phá hoại hòa bình châu Á-Thái Bình Dương. Trung Quốc đã chuyển các nguồn lực kinh tế của mình thành một kho quân sự phát triển và ấn tượng.

Bắc Kinh bắt tay vào chương trình hiện đại hóa quân sự sau chiến tranh lạnh, đó là thời điểm hòa bình và an ninh duy nhất trong lịch sử Trung Quốc. Họ đã không lựa chọn tập trung vào quốc phòng cho đất nước, vào những mối đe dọa gây ra bởi chủ nghĩa khủng bố hoặc phổ biến vũ khí hạt nhân, hoặc vào các chương trình khiêm tốn, cho phép Trung Quốc tiếp tục phát triển trong hòa bình, trong khi đề phòng các cuộc tấn công tiềm tàng. Đó là những điều mà các nước còn lại trên thế giới đang làm. Cũng không phải sau cuộc tấn công 11/9 và hậu quả các mối đe dọa cho tất cả các quốc gia không phải Hồi giáo, để Trung Quốc thay đổi tư thế của mình và đóng góp vào các nỗ lực toàn cầu nhằm diệt trừ những nơi ẩn trú an toàn của khủng bố. Thay vào đó, họ tiếp tục đầu tư vào khả năng phô trương sức mạnh.

Quyết định này thúc đẩy do ý thức sâu sắc rằng Trung Quốc phải sửa những sai lầm trong quá khứ và phục hồi từ “một thế kỷ nhục nhã”. Đài Loan cần được giác ngộ, Nhật Bản trả lại bất lực, và Hoa Kỳ đi vào vùng ngoại vi của Trung Quốc bị cản trở. Trung Quốc không thể chịu nhục để dựa vào Hoa Kỳ giúp giữ an toàn các tuyến đường vận chuyển thương mại cho Trung Quốc. Trong ý định của các nhà lãnh đạo theo chủ nghĩa dân tộc quá khích bên trong chính phủ, các nước còn lại của châu Á phải chấp nhận vị trí xứng đáng của nước Trung Quốc đứng đầu trong hệ thống cấp bậc chính trị châu Á.

Tóm lại, Trung Quốc tìm cách chống lại các mục tiêu cơ bản nhất của chúng ta ở châu Á-Thái Bình Dương: duy trì trật tự chính trị, giúp tạo ra một tập hợp các nền kinh tế thị trường tự do và dân chủ nhất trong khu vực và bảo đảm các nền kinh tế này tiếp tục phát triển tự do, thoát khỏi sự thống trị của bất kỳ cường quốc nào khác.

Hoa Kỳ phản ứng ra sao?

Chúng ta đã phản ứng rất khiêm tốn do sự yếu dần về vị trí quân sự thuận lợi của chúng ta ở châu Á. Trong những năm dưới thời cựu Tổng thống Clinton, chúng ta nâng cấp quan hệ với Nhật Bản và bắt đầu đàm phán với Ấn Độ đã dẫn đến một bước đột phá chiến lược cho chính phủ kế tiếp. Dưới thời cựu Tổng thống Bush, chúng ta cũng chuyển vũ khí về hàng hải và hàng không vũ trụ vào Thái Bình Dương.

hoatien-tq--250
Một loại hỏa tiễn phòng thủ chống đạn đạo trên không của Trung Quốc. AFP photo

Nhưng không có bước quan trọng nào được thực hiện theo hướng xây dựng một sự ngăn chặn mạnh mẽ hơn ở Thái Bình Dương, một sự ngăn chặn có thể dũng cảm đương đầu, không khoan nhượng Trung Quốc.

Có nhiều trường hợp do sơ suất của người Mỹ về vấn đề này. Chương trình tàu ngầm tấn công của chúng ta là không vững, với số lượng cho thấy bị giảm dần. Chúng ta hủy bỏ chương trình không lực chiến thuật, F-22, có thể hoạt động hiệu quả nhất chống lại hệ thống phòng không tinh vi của Trung Quốc. Chúng ta đã không thực hiện việc cơ bản về củng cố và bảo đảm các căn cứ trên bộ hiện tại của chúng ta hoặc đa dạng hóa chúng.

Các chương trình tàu nổi trên mặt nước của chúng ta bị thu hẹp lại và không phải là tối ưu hóa cho chiến tranh dưới nước. Việc phòng thủ hứa hẹn nhất của chúng ta, chống lại tên lửa Trung Quốc – năng lượng trực tiếp – không được tài trợ một cách thích đáng. Hạm đội tàu chở dầu của chúng ta cần thiết để tiếp nhiên liệu cho máy bay tấn công trong khu vực với các tuyến hậu cần rất dài còn bị suy yếu và cũ kỹ. Các chương trình hứa hẹn và mới đang ở trong giai đoạn thử nghiệm – như máy bay không người lái hạ cánh căn cứ hải quân và vũ khí tấn công tầm xa – đáng lẽ phải được đầu tư cách nay một thập kỷ.

Hơn nữa, chúng ta chỉ có những lời nói đầu môi cho các quan hệ đối tác của chúng ta. Với các nền kinh tế và quân đội tiên tiến như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Úc, và Ấn Độ, các liên minh thực sự đòi hỏi xuất khẩu thiết bị và hệ thống công nghệ cao. Chúng ta vẫn chưa thực hiện các bước cơ bản trong việc cải cách kiểm soát xuất khẩu để có thể bán các loại vũ khí một cách dễ dàng hơn cho các đồng minh của chúng ta mà họ cần và sau đó luyện tập cùng họ ở các hệ thống thông thường. (Một hệ quả xung đột đặc biệt là người Pháp hay người Nga có thể bán máy bay chiến đấu cho Ấn Độ, mặc dù phi công của chúng ta có nhiều khả năng chiến đấu trong một ngày cùng với chúng).

Tất cả các quốc gia đang đầu tư vào tàu ngầm, tàu nổi chống tàu ngầm, tên lửa hành trình, và máy bay chiến thuật đều có thể tham gia vào các cuộc tấn công trên biển. Chúng ta đang thiếu một cơ hội chiến lược để xây dựng một mạng lưới đồng minh rộng khắp khu vực quanh các mối quan ngại về an ninh chung.

Đầu tư thích đáng vào ưu thế trên không, trên biển và phòng thủ tên lửa sẽ rất tốn kém. Nhưng chi phí không là gì so với cái giá mà chúng ta sẽ trả nếu trong khu vực đã được hưởng hòa bình, ổn định và thịnh vượng một thời gian dài, lại rơi vào hỗn loạn hoặc xung đột.

Các yêu cầu chiến lược của chúng ta đòi hỏi phải đầu tư nhiều hơn vào quân sự ở châu Á-Thái Bình Dương trên một lịch trình giải quyết, cũng như tư duy chiến lược sáng tạo về xây dựng liên minh với các quốc gia đã tự đầu tư vào chương trình hiện đại hóa quân sự của họ. Đầu tư thích đáng vào ưu thế trên không, chiến tranh trên biển và phòng thủ tên lửa sẽ rất tốn kém. Nhưng chi phí không là gì so với cái giá mà chúng ta sẽ trả nếu trong khu vực đã được hưởng hòa bình, ổn định và thịnh vượng một thời gian dài, lại rơi vào hỗn loạn hoặc xung đột.

Ông Dan Blumenthal là thành viên chính thức của American Enterprise Institute.

Dịch từ: http://www.aei.org/article/102121