Danh mục lưu trữ: TƯ LIỆU

Trung Quốc xâm phạm vùng biển quốc tế?


2010-05-21

Các hành động hiếu chiến của Trung Quốc trên đại dương như hải quân nhanh chóng mở rộng và chiến lược toàn cầu mới cho thấy động cơ của Bắc Kinh nhằm chứng tỏ sức mạnh về địa chính trị nhiều hơn là kinh tế.

AFP photo/

Lực lượng bán quân sự Trung Quốc đang tập luyện chống bạo động tại một căn cứ quân sự thuộc tỉnh Tứ Xuyên.

Đó là lý do tại sao Hoa Kỳ hoặc là điều tiết để sớm trở thành lực lượng hải quân là “đối thủ ngang hàng” hoặc là phải đối mặt với nguy cơ về các cuộc xung đột quân sự với một siêu cường đang nổi lên.

Hành động khiêu khích

Tuần trước, Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản bày tỏ quan ngại về sự công kích quân sự của Trung Quốc đang phát triển. “Tôi sẽ không sử dụng từ ‘đe dọa’ – nhưng chắc chắn chúng ta cần phải xem xét một cách thật cẩn thận về các kho vũ khí hạt nhân và khả năng của hải quân Trung Quốc”, ông Katsuya Okada nói với báo Wall Street Journal.

Ông Okada đệ trình một phản đối cho Bắc Kinh hồi đầu tháng này về “hành vi gây cản trở” của một chiếc tàu khảo sát Trung Quốc ở Biển Hoa Đông. Ông Okada phàn nàn rằng, tàu Trung Quốc đã đuổi một tàu bảo vệ bờ biển Nhật Bản, mà Tokyo nói đang tiến hành khảo sát biển trong phạm vi vùng (đặc quyền) kinh tế của Nhật Bản.

Đây là lần thứ ba Trung Quốc đã khiêu khích trong một tháng qua. Ngày 10 và 21 tháng 4, một đội tàu nhỏ từ Hạm đội Đông Hải của Trung Quốc đi qua eo biển Miyako của Nhật Bản, khu vực giàu khoáng sản đang tranh chấp giữa hai cường quốc châu Á.

Quân sự của Trung Quốc đã bắt đầu phát triển các vai trò, nhiệm vụ, và khả năng mới để hỗ trợ lợi ích gia tăng trong khu vực và và lợi ích toàn cầu của họ.

Nghiên cứu của Lầu Năm Góc 2010

Mỗi lần đi qua, các máy bay trực thăng của Trung Quốc lượn vòng gần các tàu khu trục Nhật Bản. Những sự cố này gây khó chịu cho Nhật Bản đã xảy ra chỉ vài ngày sau khi các tàu chiến từ Hạm đội Bắc Hải của Trung Quốc trở về từ nơi mà Trung Quốc gọi là “các cuộc tập trận đối đầu” ở Biển Đông, theo Stratfor, một nhóm tình báo Mỹ cho biết.

Hải quân Hoa Kỳ đã từng là nạn nhân của sự “đối đầu” của Trung Quốc. Năm 2001, các máy bay chiến đấu Trung Quốc đã chặn và đâm vào một chiếc máy bay Hải quân Hoa Kỳ Orion P-3 và buộc máy bay này hạ cánh ở một sân bay quân sự của Trung Quốc. Cuối năm 2007, tàu ngầm loại Song của Trung Quốc chạy trên mặt nước gần tàu sân bay Hoa Kỳ USS Kitty Hawk một cách nguy hiểm trong một cuộc tập trận ở Thái Bình Dương. Năm ngoái, các tàu Trung Quốc đã thao diễn một cách hung hăng khi đến gần tàu Hoa Kỳ trong vòng 25 feet, tàu Impreccable USNS, là tàu khảo sát đại dương không vũ trang ở Biển Đông.

Những hành động hung hăng cho thấy, hải quân Trung Quốc là một nhân vật mới và nguy hiểm.

Hành vi hiếu chiến của hải quân Trung Quốc đi kèm với sự thèm khát dường như không thể thoả mãn ngày càng gia tăng của chế độ đối với tài nguyên thiên nhiên và việc vận động cho các sản phẩm của họ, nhằm duy trì nền kinh tế phát triển nhanh. Điều đó có nghĩa là Bắc Kinh phải phụ thuộc vào tuyến đường biển để vận chuyển hàng hóa, trở thành một yếu tố tạo thành hành vi hải quân chiến lược của họ.

Lợi ích kinh tế

Động lực của Bắc Kinh về một lực lượng hải quân lớn thì phức tạp hơn là thương mại. Có một xu hướng đang lên về chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc nhắm vào Nhật Bản và Hoa Kỳ, là các đối thủ hải quân của Trung Quốc trong thời gian dài. Một lực lượng hải quân lớn hơn nuôi dưỡng niềm tự hào quốc gia của Trung Quốc bằng chi phí của các đối thủ của họ và cung cấp cho Bắc Kinh công cụ để cuối cùng sẽ thống nhất “tỉnh nổi loạn” của Đài Loan bằng vũ lực, nếu cần thiết. Và nó giúp kiểm soát tranh chấp nhóm đảo ngoài khơi của Trung Quốc, tạo thành một vành đai an ninh quốc phòng mới bên ngoài.

Động lực đa dạng này thúc đẩy sự chuyển đổi chiến lược quân sự của Trung Quốc. Nghiên cứu Quốc phòng bốn năm một lần của Lầu Năm Góc trong năm 2010 phác thảo sự chuyển đổi “quân sự của Trung Quốc đã bắt đầu phát triển các vai trò, nhiệm vụ, và khả năng mới để hỗ trợ lợi ích gia tăng trong khu vực và và lợi ích toàn cầu của họ“.

Chúng tôi đang đi từ phòng thủ ven biển cho tới phòng thủ ngoài khơi”, ông Trương Hoa Trần, Thiếu tướng Hải quân, Phó chỉ huy Hạm đội Đông Hải nói với Tân Hoa xã, hãng tin của chính phủ Trung Quốc. Ông Trương Hoa Trần giải thích: “Do việc mở rộng các lợi ích kinh tế của đất nước, hải quân muốn bảo vệ tốt hơn các tuyến đường vận chuyển của đất nước cũng như bảo đảm sự an toàn trên các tuyến hàng hải chính“.

Một bài xã luận hồi tháng 4 trên báo Global Times, một tờ báo thuộc sở hữu nhà nước Trung Quốc, đã cố gắng xua tan mối lo ngại về việc lớn mạnh của hải quân nước này: “Trung Quốc không có ý định thách thức Hoa Kỳ ở Trung tâm Thái Bình Dương hoặc tham gia vào một cuộc đụng độ quân sự với Nhật Bản ở vùng biển lân cận“. Tờ (Global) Times đã viết như thế. Nhưng lời tuyên bố đó đã mở rộng một cách triệt để định nghĩa trước đây của Trung Quốc về “lợi ích cốt lõi” hiện bao gồm cả Biển Đông và toàn bộ khu vực phía Tây Thái Bình Dương.

Đặc biệt quan tâm đến các yếu tố hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc, cho thấy nó được thiết kế để thách thức quyền tự do hành động của chúng ta trong khu vực

Đô đốc Robert Willard

Bài xã luận sau đó cảnh báo, đến lúc Mỹ và Nhật Bản “điều chỉnh quan điểm của họ khi xem xét các hành động của Trung Quốc. Cái thời mà mà các cường quốc thống trị và tận hưởng ‘phạm vi ảnh hưởng’ không chia sẻ trên khắp thế giới thì đã qua”. Sau đó, bài báo kết luận: “Hải quân Trung Quốc phát triển là một biểu tượng của sự phát triển hòa bình của Trung Quốc”. Nhưng quan điểm đó mâu thuẫn với hành vi quả quyết của Trung Quốc và sự ham muốn của họ về một lực lượng hải quân lớn, có khả năng tấn công.

Gia tăng sức mạnh hải quân

Hai thập kỷ gia tăng việc chi tiêu lên tới hai con số đã làm cho hải quân Trung Quốc phát triển nhanh chóng. 225.000 quân của Hải quân Trung Quốc được tổ chức thành ba hạm đội và được trang bị với 260 tàu, gồm 75 “tàu chiến quan trọng” với hơn 60 tàu ngầm. Hải quân Hoa Kỳ có 286 tàu chiến, mặc dù hạm đội Mỹ có khả năng vượt trội so với hải quân Trung Quốc.
Trong tháng 3, Đô đốc Robert Willard, Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ ra điều trần về sự phát triển của hải quân Trung Quốc là “khá ấn tượng”. “Đặc biệt quan tâm đến các yếu tố hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc, cho thấy nó được thiết kế để thách thức quyền tự do hành động của chúng ta trong khu vực”, Đô đốc nói.

Sự phát triển “khá ấn tượng” của Bắc Kinh gồm các kế hoạch triển khai hai tàu sân bay vào năm 2015. Họ đã mua bốn tàu sân bay ngưng hoạt động: một tàu từ Úc và ba tàu của Liên Xô cũ. Ngày 21 tháng 3, tàu sân bay Liên Xô cũ, tàu Varyag, rời khỏi ụ cạn ở Đại Liên, Trung Quốc, sau khi tân trang và bây giờ đang trải qua quá trình cài đặt các thiết bị điện tử và vũ khí. Một báo cáo của Lầu Năm Góc năm 2009 cho biết, Trung Quốc đang huấn luyện 50 phi công hải quân cho máy bay Sukhoi SU-33s (navalized Flankers), cho các hoạt động máy bay trên tàu sân bay.

ngu-chinh-2009-250
Tàu ngư chính Trung Quốc tuần tiễu vùng biển Đông năm 2009. AFP Photo

Hải quân Trung Quốc sử dụng mạng lưới phát triển quốc tế ở các cảng được gọi là “chuỗi hạt ngọc trai” (pearl necklace). Các căn cứ cố định của Trung Quốc dọc các bờ biển Ấn Độ Dương và các tuyến hàng hải đến eo biển chiến lược Malacca: Maldives , Miến Điện, Bangladesh , Sri Lanka , Seychelles và Pakistan . Bắc Kinh cũng đang tích cực đàm phán với một số nước châu Phi để sử dụng các cảng thường xuyên.

Các đơn vị hải quân Trung Quốc cũng đang làm nhiệm vụ ở các địa điểm mới. Từ năm 2008, Hải quân Trung Quốc đã duy trì ba tàu ở Vịnh Aden để tiến hành tuần tra chống cướp biển và tháng 3 này, hai tàu chiến Trung Quốc thả neo ở Abu Dhabi, lần đầu tiên Hải quân Trung Quốc đã viếng thăm một cảng ở Trung Đông. Trung Quốc cũng đang đàm phán để sử dụng một căn cứ mới ở Iran .

Hoa Kỳ phải làm gì?

Các lợi ích thương mại mở rộng của Trung Quốc kết hợp với chiến lược hải quân mới và có khả năng, đòi hỏi Washington ra các quyết định cứng rắn.
Hoa Kỳ có nên duy trì sự hiện diện ở châu Á để bảo vệ lợi ích kinh tế và an ninh của mình không? Dường như chính phủ Obama có kế hoạch duy trì một lực lượng đáng tin cậy trong khu vực hiện nay. Gần đây, Hoa Kỳ đã chuyển một số tàu ngầm hạt nhân từ Đại Tây Dương đến Thái Bình Dương giúp theo dõi lực lượng tàu ngầm của Trung Quốc.

Nhưng để giữ số lượng cần thiết nhằm đáp ứng những thách thức của Trung Quốc và thử thách trên toàn cầu, có thể không phải là ưu tiên của Tổng thống Obama. Tuần trước, ông Robert Gates, Bộ trưởng Quốc phòng đã cảnh báo, “Việc chi tiêu quân sự tràn lan đã không còn, và sẽ tránh xa trong một thời gian dài”.

Ông Gates hỏi: “Liệu số số tàu chiến mà chúng ta có và đang xây dựng thêm có thực sự đặt Mỹ vào mối nguy hiểm khi các hạm đội tàu chiến của Mỹ lớn hơn hải quân 13 nước cộng lại, mà 11 nước trong số đó thuộc về đồng minh và đối tác (của chúng ta)?” Tuyên bố đó không có lý, dựa trên báo cáo năm 2009 của Lầu Năm Góc về sức mạnh quân sự của Trung Quốc cho thấy Bắc Kinh đã có 260 tàu (và ngày càng tăng) so với 286 tàu của Mỹ.
Chúng ta cũng có thể đào tạo và trang bị cho các đồng minh trong khu vực như Nhật Bản, nhưng hầu hết các đồng minh châu Á không đủ khả năng triển khai các tàu biển để bảo vệ lợi ích sống còn của họ từ hạm đội siêu cường của Trung Quốc.

Gần đây, Hoa Kỳ đã chuyển một số tàu ngầm hạt nhân từ Đại Tây Dương đến Thái Bình Dương giúp theo dõi lực lượng tàu ngầm của Trung Quốc.

Cuối cùng, Mỹ nên tham gia với Trung Quốc để loại bỏ bức màn bí mật của mình về các chương trình quân sự và các ý định về địa chính trị. Các chương trình hợp tác an ninh – diễn tập chung, trao đổi – có thể giảm bớt căng thẳng và các thỏa thuận về không gian diễn tập, giúp tránh các cuộc đối đầu không cần thiết.

Trung Quốc là một cường quốc hải quân lớn mạnh sẽ sớm trở thành “đối thủ cạnh tranh” của Mỹ. Washington cần tham gia với Bắc Kinh trong mọi cơ hội để thúc đẩy tính minh bạch và hợp tác trong khi duy trì sự ngăn chặn đáng tin cậy ở châu Á. Nếu không, lợi ích an ninh và kinh tế của chúng ta chắc chắn sẽ va chạm nhau và chúng ta có thể dễ dàng rơi vào cuộc chiến tranh lạnh mới hoặc tồi tệ hơn.


Robert Maginnis, 20-05-2010

Ông Maginnis là một trung tá quân đội về hưu, và là phân tích gia về an ninh quốc gia và các vấn đề đối ngoại cho các đài phát thanh và truyền hình và một nhà chiến lược cao cấp của quân đội Mỹ.

Dịch từ: http://www.humanevents.com/article.php?id=37081

Mỹ gia tăng Hải quân khi Trung Quốc lớn mạnh trên biển


2010-05-12

Hải quân Hoa Kỳ vô cùng quan trọng trong việc bảo vệ đất nước này và để duy trì tự do trên vùng biển quốc tế.

Photo courtesy of defencetalk.com

Tàu sân bay của Hoa Kỳ

Vai trò và nhiệm vụ của Hải quân Mỹ

Tự do đi lại được Hải quân bảo đảm, là tối quan trọng đối với khả năng của Mỹ, cho thấy sức mạnh bằng cách đưa người và thiết bị đến 70% bề mặt trái đất và duy trì mậu dịch thế giới và thương mại.

Nhiệm vụ của Hải quân trong lĩnh vực đó đã mở rộng đáng kể trong những năm gần đây. Cùng lúc, Hải quân phải đối mặt với thách thức chiến lược từ Trung Quốc ở Thái Bình Dương. Tuy nhiên, số lượng tàu trong các hạm đội tiếp tục giảm. Nếu xu hướng này không đảo ngược ngay, ảnh hưởng và an ninh của Mỹ trên thế giới sẽ bị giảm trong nhiều năm tới.

Ngoài các nhiệm vụ khác, hải quân Mỹ hỗ trợ nhằm duy trì các hoạt động chiến đấu ở Iraq và Afghanistan, tuần tra Vịnh Aden và Ấn Độ Dương để ngăn chặn cướp biển ở Somali, cung cấp việc phòng thủ tên lửa đạn đạo (BMD) cho các căn cứ trên biển, để các lực lượng Mỹ và liên minh các nước như Nhật Bản và Israel, ngăn chặn việc giao vũ khí bất hợp pháp và buôn lậu vũ khí hủy diệt, ngăn chặn nạn buôn bán ma tuý bất hợp pháp và nạn buôn người, cung cấp cứu trợ nhân đạo tại Haiti và các nơi khác, thực hiện vai trò truyền thống trong việc duy trì sự tự do trên biển và ngăn các cuộc tấn công ở quê nhà và các lợi ích Mỹ ở nước ngoài.

Tự do đi lại được Hải quân bảo đảm, là tối quan trọng đối với khả năng của Mỹ, cho thấy sức mạnh bằng cách đưa người và thiết bị đến 70% bề mặt trái đất và duy trì mậu dịch thế giới và thương mại.

Ngoài các nhiệm vụ này, Hải quân đang phải đối mặt với sự trỗi dậy của một cường quốc thế giới mới xuất hiện, với ý định giữ vai trò lãnh đạo tại Thái Bình Dương, đại dương mà Hoa Kỳ đã từng thống trị. Năm ngoái, Trung Quốc đưa ra một chiến lược mới “phòng thủ ngoài khơi” và đang xây dựng một khả năng tầm xa trên biển cho hải quân của họ. Một yếu tố chiến lược mới của Trung Quốc là mở rộng tiếp cận hoạt động vượt khỏi Biển Đông và Philippines vào “chuỗi đảo thứ hai” của Thái Bình Dương, nơi mà Mỹ thực hiện uy thế hải quân truyền thống.

Trong khi Hoa Kỳ xem vai trò hải quân ở Thái Bình Dương là một lực lượng để giữ tự do đi lại trên biển cho tất cả các nước, Trung Quốc nhìn vấn đề hoàn toàn khác. Trung Quốc cho rằng họ có quyền kiểm soát bất kỳ hoạt động nào trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý, làm cho các tuyến đường đi lại bị giới hạn đối với các tàu hải quân và các tàu buôn nước ngoài, nếu không được phép của Trung Quốc.

Trung Quốc cũng khẳng định quyền sử dụng vũ lực để chiếm (đảo quốc) dân chủ Đài Loan và đang nhanh chóng phát triển các phương tiện để ngăn chặn sự can thiệp của Mỹ khi Trung Quốc quyết định xâm lược hoặc phong tỏa Trung Hoa Dân quốc. Các viên chức Trung Quốc đã thông báo rõ cho các viên chức Mỹ rằng họ sẽ không chấp nhận sự can thiệp của nước ngoài vào các vấn đề lãnh thổ ở Biển Đông. Việc Trung Quốc đột ngột mở rộng hải quân nhanh chóng như vậy đã làm ngạc nhiên các nhà hoạch định chính sách của Mỹ.

Để củng cố chiến lược của mình, Trung Quốc đã triển khai 60 tàu ngầm và 75 tàu chiến lớn. Trung Quốc cũng đã công bố ý định xây dựng tàu sân bay địa phương để chấm dứt sự độc quyền của các tàu Hoa Kỳ ở Thái Bình Dương. Trong nhiều năm qua, Trung Quốc đã mua ba tàu sân bay của Liên Xô cũ và một của Úc, các con tàu này đang được các kiến trúc sư hải quân của họ nghiên cứu.

Ngoài các nhiệm vụ này, Hải quân đang phải đối mặt với sự trỗi dậy của một cường quốc thế giới mới xuất hiện, với ý định giữ vai trò lãnh đạo tại Thái Bình Dương, đại dương mà Hoa Kỳ đã từng thống trị.

Trung Quốc cũng đã thành lập hoàn chỉnh các chương trình tên lửa đạn đạo và chống tàu, hạm đội tàu ngầm mở rộng của họ và việc khởi xướng tàu sân bay mới, cho thấy Trung Quốc sẽ là một cường quốc hải quân đáng sợ ở Thái Bình Dương, và nếu không bị cản trở, có nhiều khả năng vùng đại dương bị biến thành “cái hồ của Trung Quốc”.

Hoàn thành nhiều nhiệm vụ và đối mặt với những thách thức ngày càng tăng của Trung Quốc không phải là (kế hoạch) 600 tàu hải quân (1) đã được xây dưới thời Tổng thống Ronald Reagan. Cũng không phải (kế hoạch) 313 tàu hải quân mà Lầu Năm Góc đặt ra con số các tàu chiến cần thiết để bảo vệ quyền lợi người Mỹ chỉ hai năm trước đây. Ngày nay, Hải quân Hoa Kỳ đang điểu khiển 284 tàu chiến.

Trong khi các kế hoạch hiện tại kêu gọi gia tăng quy mô Hải quân theo thời gian, một số nhà bình luận có uy tín đề nghị ngân sách hiện tại, sẽ dẫn đến kết quả hải quân chỉ có 215 tàu trong tương lai gần, nếu thực hiện kế hoạch cắt giảm 4,5% ngân sách hàng năm của Hải quân.

Hậu quả của việc cắt giảm quy mô của Hải quân sẽ không tốt cho Hoa Kỳ. Nếu việc điều khiển trên biển không được bảo đảm bởi Hải quân, sẽ trở nên khó khăn hơn để Mỹ chứng tỏ sức mạnh ở những nơi cần thiết, nhằm đánh bại khủng bố, ngăn chặn vũ khí hủy diệt và mua bán vũ khí bất hợp pháp, ngăn chặn các quốc gia, bao gồm cả siêu cường mới Trung Quốc, có thể gây nguy hại cho Mỹ và đồng minh.

Mậu dịch thế giới và các nền kinh tế quốc gia sẽ thiệt hại như chi phí vận chuyển tăng cao do các tuyến đường biển quan trọng bị hạn chế hoặc bị tắc nghẽn do (các lực lượng) thù địch hoặc các cường quốc ven biển có tham vọng. Hơn nữa, cướp biển và tình trạng vô luật pháp trên biển nói chung, sẽ gây ra sự mất mát và bảo hiểm gia tăng đáng kể cho các công ty vận chuyển. Các nỗ lực cứu trợ nhân đạo nhanh chóng sẽ khó khăn hơn để huy động nhằm hưởng ứng việc đối phó với thiên tai như vụ song thần ở Indonesia, động đất ở Pakistan, và lũ lụt ở các đảo Nam Thái Bình Dương.

Chiến lược của Hoa Kỳ

naval-ship-250
Tàu Hải quân Trung Quốc tại cảng thuộc thành phố Sanya – Trung Quốc hôm 26/12/2008. Photo courtesy of english.china.com

Nhìn thấy việc gia tăng của Hải quân Trung Quốc ở Thái Bình Dương, cựu lãnh đạo Singapore, ông Lý Quang Diệu, gần đây đã đưa ra cảnh báo cho Washington như sau: “Lợi ích cốt lõi của Hoa Kỳ đòi hòi nước này duy trì sức mạnh vượt trội ở Thái Bình Dương … Từ bỏ vị trí này sẽ giảm bớt vai trò của Mỹ trên toàn thế giới”.

Các bước có thể được thực hiện ngay bây giờ nhằm tăng cường quốc phòng trên biển của Mỹ, gồm cả khôi phục lại kế hoạch cắt giảm ngân sách Hải quân và tăng kinh phí ngay lập tức lên mức thích hợp nhằm duy trì 313 tàu hải quân với nhóm 11 tàu sân bay. Xây dựng và triển khai thêm các tàu khu trục lớn và tàu khu trục nhỏ, đặc biệt thiết kế cho chiến tranh chống tàu ngầm (ASW) và làm nhiệm vụ tuần tra nên là ưu tiên hàng đầu.

Những chiếc tàu như thế đã làm việc cực nhọc trong tất cả các cuộc xung đột lớn trong quá khứ liên quan đến sức mạnh trên biển – gồm cả hai cuộc chiến Thế giới với chiến tranh Triều Tiên và Việt Nam. Tương tự, xây các tàu chiến đấu duyên hải với chi phí thấp hơn (LCS) và các tàu nhanh nhỏ, chẳng hạn như thuyền đôi chiến đấu thử nghiệm trên biển đang được Văn phòng Nghiên cứu Hải quân thử nghiệm, sẽ ít tốn kém hơn trong việc thực hiện nhiệm vụ như các hoạt động đặc biệt và chống khủng bố, ngăn chặn ma túy và các nhiệm vụ nhân đạo hiện chiếm thời gian của các tàu chiến lớn hơn, phù hợp hơn cho hoạt động trên biển.

Nâng cao khả năng phòng thủ tên lửa đạn đạo (BMD) ở vùng đất chính của Hoa Kỳ tại Alaska và xây thêm các nơi phòng thủ tên lửa đạn đạo (BMD) ở lục địa Hoa Kỳ và châu Âu sẽ bảo vệ Mỹ và đồng minh của mình khỏi các mối đe dọa từ Bắc Triều Tiên, Iran và các mối đe dọa về tên lửa đạn đạo khác. Lúc đó Hải quân có thể triển khai tàu khu trục Aegis (2) và tàu tuần dương cho các nhiệm vụ khác, ngoài nhiệm vụ phòng thủ tên lửa đạn đạo trên biển.

Khả năng của Hoa Kỳ để chứng minh sức mạnh trên toàn cầu và bảo đảm hòa bình thông qua sức mạnh, phần lớn phụ thuộc vào Hải quân Hoa Kỳ và nhóm tàu sân bay chiến đấu cốt lõi, là lực lượng vượt trội ở Thái Bình Dương và trên khắp thế giới.

Nâng cao mức độ bảo trì các tàu sân bay đã ngừng hoạt động trong thời gian gần đây như tàu John F. Kennedy, mà vẫn còn trong hạm đội dự bị, là một chương trình với ảnh hưởng cao nhưng chi phí ít tốn kém giúp hạm đội của chúng ta có thêm chiều sâu. Các tàu sân bay phải ở tư thế sẵn sàng tham gia trở lại với các hạm đội đang hoạt động khi được thông báo gấp.

Một chương trình bảo trì hiệu quả cho các tàu sân bay ngưng hoạt động này là gửi một thông điệp rõ ràng tới kẻ thù của chúng ta rằng, ngay cả nếu họ may mắn đánh chìm hoặc làm hư hỏng một trong những tàu sân bay đang hoạt động của chúng ta với một tên lửa hành trình hoặc ngư lôi, thì sẽ có một tàu tương tự nhanh chóng thay thế vào vị trí tàu đó, đặc biệt là tàu sân bay được trang bị các loại máy bay gồm máy bay ném bom F-35, cất cánh và hạ cánh thẳng đứng theo chiếu dọc (VTOL).

Khi các cuộc xung đột quốc tế bùng nổ hoặc thiên tai xảy ra, câu hỏi đầu tiên mà các nhà hoạch định chính sách Mỹ (và tương tự bạn bè hay kẻ thù cũng vậy) sẽ hỏi là, “các tàu sân bay ở đâu”? Khả năng của Hoa Kỳ để chứng minh sức mạnh trên toàn cầu và bảo đảm hòa bình thông qua sức mạnh, phần lớn phụ thuộc vào Hải quân Hoa Kỳ và nhóm tàu sân bay chiến đấu cốt lõi, là lực lượng vượt trội ở Thái Bình Dương và trên khắp thế giới. Để duy trì sự liên quan của câu hỏi đã đề cập ở trên, ngay lập tức Mỹ phải đảo ngược sự giảm sút Hải quân của mình.

Robert C. O’Brien là đại diện Hoa Kỳ trong kỳ họp lần thứ 60 Đại hội đồng LHQ. Ông là đối tác quản trị Văn phòng Los Angeles của Tổng Công ty Luật và Vận động hành lang Arent Fox LLP.

Ghi chú:

(1) 600-ship Navy: là kế hoạch mà Tổng thống Ronald Reagan đưa ra trong chiến dịch tranh cử năm 1980. Kế hoạch này nhằm củng cố lưc lượng hải quân Hoa Kỳ trong thập niên 80 sau chiến tranh Việt Nam, để đối trọng với Liên Xô cũ.

(2) Tàu khu trục Aegis: là loại tàu có trang bị hệ thống chiến đấu dành cho Hải quân, do Hoa Kỳ phát triển và sử dụng. Trên thế giới hiện có 5 nước có tàu khu trục Aegis: Mỹ, Nhật Bản, Tây Ban Nha, Nam Hàn và Na Uy với hơn 100 chiếc.