Lưu trữ theo thẻ: Đào Trung Đạo

Triết Học Nào Cho Thế Kỷ XXI

(đọc Từ Điển Triết Học Giản yếu & Triết Học Nào cho Thế kỷ XXI của Đăng Phùng Quân*)

Đào Trung Đạo

Khi đã ở trên con đường tư tưởng triết lý triết gia ở mọi thời đại thiết yếu chạm mặt  câu hỏi: Triết học nào cho hôm nay? Trong trận đồ tư tưởng với những triết gia đi trước, câu hỏi “Triết học nào cho hôm nay” không phải là phủ nhận những thành tựu trong lịch sử triết học, cũng không phải là tham vọng vượt bỏ ảnh hưởng của những bậc thầy đi trước. Vì đây không phải là một câu hỏi đặt ra cho cá nhân triết gia mà là câu hỏi đặt ra cho triết học. Con đường mở ra, diễn ngôn triết học về Hữu ẩn mật xuyên phá bóng tối để phơi mở, ngôn ngữ chụp bắt những tia chớp đột hiện. Câu hỏi triết học nào cho hôm nay – thế kỷ 2

 

1 – cũng khởi đi từ sự nghi hoặc: phải chăng triết học đã đi vào chung cuộc, triết học đã chấm dứt? Nhưng câu hỏi cũng còn có nghĩa: nếu triết học ở vào thời điểm hiện tại đi vào khủng hoảng thì triết học phải biến đổi. Câu hỏi này cũng hàm chứa sự hàm hồ lưỡng tính vì nó nhắm đến một sự thay đổi diễn ra trong sự triển khai một triết học tương lai chưa định hình. Nhưng để định hình một triết học cho tương lai nhất thiết đòi hỏi phải có sự tiếp cận xuyên suốt lịch sử triết học, gần nhất là triết học thế kỷ 20. Ngay từ những gìòng mở đầu cho Triết học nào cho thế kỷ 21  Đăng Phùng Quân đã chỉ ra: “Thế kỷ XXI đã qua năm thứ chín – đối với những người sinh vào nửa đầu thế kỷ XX thật là một hành trình dài, kinh qua những cuộc chiến tự sát và tiêu diệt. Những khái niệm bạo động, khủng bố, cách mạng dường như không còn ý nghĩa của điều ác, những mục tiêu dân chủ, độc lập, nhân quyền, tự do cạn kiệt những ý nghĩa về thiện. Thời đại của nghi hoặc có một quá trình vô tận. Trước sự băng hoại to lớn ấy, không chỉ là hiện tượng kinh tế suy thoái toàn cầu, mà cả một cuộc phá sản tư tưởng, khởi sự là ý thức hệ cộng sản.

 

   Trong cuộc khủng hoảng ấy, triết học đi đến đâu?  Câu hỏi có quá vô tình trước những thảm họa nhân loại đang chịu đựng không? Hay vấn đề cấp thiết, trước một thế giới thiếu sinh lực động não?”

   Tác giả của Triết học nào cho thế kỷ 21  đã đưa ra một phương án có tính hệ thống nhằm trả lời câu hỏi này qua việc nhìn lại 100 năm triết học của thế kỷ vừa qua, và trong lộ trình kiểm tra này chỉ ra những bước ngoặt  dẫn tới thời quá độ vào cuối thế kỷ 20 để đi tới một kết luận khả hữu.

   Trong phần Nhìn Lại 100 Năm Triết học của Thế Kỷ Vừa Qua sau khi nêu ra hai tác phẩm cột mốc mở đầu thế kỷ 20 là các quyển Die Traumdeutung  của Sigmund FreudLogischen Untersuchungen của Edmund Husserl tác giả xác định ý nghĩa của sự ‘nhìn lại’ như sau : “Tại sao nhìn lại? nhìn lại thường để kiểm điểm, tổng kết, phê phán những thành quả đắc thủ, những tồn tại, tuy nhiên quá trình không diễn ra trên một cương tuyến liên tục mà có những cách quãng nhảy vọt (như Bachelard hay Althusser quan niệm, là những bước cắt tri thức). Nhìn lại còn hàm ngụ sự khủng hoảng tất yếu khi một thời đại đã cáo chung, đến bước quá độ. Có thể xác định thời quá độ? Lấy tình hình triết học tư tưởng tây phương làm mẫu mực: Nếu như những Nietzsche, Kierkegaard chấm dứt thế kỷ của Hegel trước khi bước chuyển tiếp cho những trào lưu hiện tượng luận, phân tâm học và hiện sinh xác định thế kỷ hai mươi, thì với sự phê phán chủ nghĩa Mác, hậu hiện đại, hậu cấu trúc luận, sự gặp gỡ giữa triết học (quen gọi là) lục địa truyền thống với triết học Anh-Mỹ (ít ra là sự đối đầu giữa triết học phân tích, chủ nghĩa thực chứng và thuyết hủy tạo) có thể là dấu mốc của thời quá độ.

Có thể xác định thời quá độ vì chuyển tiếp của thế kỷ, không hẳn theo niên biểu, nhưng những vấn đề đặt ra chưa chứng thực là những dấu hiệu của thế kỷ kế tiếp. Sự kế thừa những di sản của giai đoạn hậu hiện đại, hậu cộng sản, hậu thuộc địa cũng như quá trình tiến hóa hậu công nghiệp đã đưa ra những vấn nạn về sự cáo chung của lịch sử (chỉ khác biệt ở chỗ khủng hoảng của thời hậu thế chiến thứ hai dẫn tới viễn cảnh bi quan về cái chết của con người, còn sự khủng hoảng của thời hậu lịch sử là tuyệt lộ của tư tưởng?)

Như đã chỉ ra ở tiểu đề, một trăm năm triết học. Nhưng triết học nào ?

Tôi không nhằm đưa ra một bức tranh toàn cảnh về triết học thế giới mà giới hạn vào một vấn đề: cơ sở của ý nghĩa hành trạng triết học và trong một thế kỷ vừa kết thúc.

Đặt vấn đề như vậy có thể như hỏi chung cuộc của triết học trong cái chung cuộc của con người và lịch sử.

Cho nên tôi sẽ không phân định những trào lưu tư tưởng như  Ludwig Landgrebe, J.M. Bochenski, Mikel Dufrenne  hay Paul Ricoeur, chỉ kể một vài tiêu biểu. Tôi chỉ đề ra một số những thảo luận trong quá trình vận động của tư tưởng thông qua những sở cứ triết học và văn chương để thử tìm xem những hạn chế về tri thức của con người trong một thế kỷ. Dường như sự cáo chung của triết học, sự thất lạc của chủ thể, sự vắng mặt của tác giả, cái chết của hiện diện là những ẩn số của một nền tảng siêu hình dấu mặt của con người về cả hai bộ diện tri thức luận và bản thể luận ?

   Có thể nói so với những thế kỷ trước thế kỷ 20 triết học có tính toàn cầu và toàn phần nhất nhờ những cơ hội lịch sử với kết quả là sự phát triển những kênh giao lưu văn hóa không những giữa Âu với Á, mà còn có sự góp tiếng của châu Mỹ La tinh, Ả Rập, Ba Tư, và Phi châu. Đường phân định đã bị xóa bỏ, những khác biệt đối thoại để thống nhất ngôn ngữ và cơ sở tư tưởng. Những truyền thống triết học quá khứ được xét lại, những đại triết gia làm nên thời đại trong quá khứ được đọc lại với những tra hỏi triệt để đứng ở thời điểm vị trí  ngày hôm nay. Vì vấn đề nền tảng của triết học là nhận thức có tính lịch sử cho nên phân biệt mới cũ có một diện mạo mới. Và diện mạo con người cũng chuyển biến từ sự có mặt ở trung tâm kế đó bị đẩy ra ngoài lề, và cuối cùng bị xóa bỏ, vắng mặt. Cùng với con người không hiện diện, tham vọng toàn-thể-hóa của những hệ thống triết học chịu ảnh hưởng của Hegel (kể cả triết học Mac-xít và Hiện sinh của J-P. Sartre giai đoạn Critique de la raison dialectique) đã cáo chung. Cũng có thể nói triết học thế kỷ 20 có nhiều trào lưu nhất so với quá khứ: hiện-tượng-luận, phân-tâm-học, cấu-trúc-luận, hậu-cấu-trúc, triết học phân tích thực nghiệm và siêu nghiệm (truyền thống Đức và truyền thống Anh-Mỹ), hủy-tạo ….(chỉ kể những trào lưu chính.) Có nhiều trào lưu tức là có nhiều tranh biện – không những chỉ có tranh biện giữa các triết gia mà còn tranh biện với các khoa học (chính xác, tự nhiên, và nhân văn) – cho nên triết học trở thành sống động nhưng cũng trở thành phức tạp, khó nắm bắt các vấn đề đối với những người không theo chuyên ngành. Nhưng điểm đáng xiển dương của triết học thế kỷ 20 là: không còn triết học nào được coi là độc tôn, là chân lý bất biến, do đó tinh thần tự do phê phán không chấp nhận não bộ tôn sùng một triết lý nào như ở những thế kỷ trước.

   Theo Đặng Phùng Quân, nhìn chung vận động tư tưởng triết học ở cuối thế kỷ 20 là một Khán trường Triết học/Theatrum Philosophicum (chữ của Michel Foucault) được đánh dấu bởi các bước ngoặt: bước ngoặt ngôn ngữ (Linguistic Turn), bước ngoặt thực dụng (Pragmatic Turn),  bước ngoăt hủy tạo (Deconstructive Turn), và bước ngoặt triết học với sự phát triển của khoa triết học tỷ giảo.

        Bước ngoặt ngữ học theo Gustav Bergmann người khởi xướng dùng danh xưng này hiểu là mọi triết gia ngôn ngữ nói về thế giới qua những phương tiện nói về ngôn ngữ thích hợp. Nhưng khi nói đến bước ngoặt ngữ học ta cần phân biệt hai truyền thống Đức và Anh-Mỹ. Truyền thống Đức cũng còn được gọi là “truyền thống Hamann-Herder-Humbold” (theo cách đặt tên của Charles Taylor vào năm1985 nay đã thành phổ biến.) Khởi từ việc Hamann phê bình quyển Phê Phán Lý tính Thuần tủy của Kant và đưa ra quan niệm “lý trí là ngôn ngữ, logos” và “không có từ/chữ thì chẳng có lý trí hay thế giới”, ngôn ngữ chủ yếu đóng vai trò phơi mở thế giới. Truyền thống này được tiếp nối ở thế kỷ 20 với Martin Heidegger, đệ tử Hans-Georg Gadamer và các học trò của Gadamer là Jűrgen Habemas và Karl-Otto Apel. Ở Mỹ Habermas được hâm mộ nhưng Apel lại có thế giá hơn ở Đức và Pháp. Truyền thống triết học ngôn ngữ Anh-Mỹ khởi đi từ duy nghiệm luận của Locke và Hume cùng với thực chứng luận lý học Áo với Frege. C-S. Peirce, Carnap, với khuôn mặt lẫy lừng nhất ở nửa sau thế kỷ 20 là Ludwig Wittgenstein.

 

        Bước ngoặt thực dụng: Với truyền thống thực dụng Mỹ trong tư tưởng của Charles Sander Peirce, William James, John Dewey, và George H. Mead từ giữa thế kỷ trước bước ngoặt thực dụng khởi đi từ sự phê phán cơ sở triết học ý thức từ Descartes và thống lĩnh triết học lục địa gần hai thế kỷ, đặt trên nhị nguyên chủ thể/đối tượng, tâm/thân, nhận thức hướng tới lý tưởng là sự chắc thực, những triết gia thực dụng cuối thế kỷ 20 đặt điểm nhấn ở kinh nghiệm xã hội và chuẩn mức qui phạm xã hội, sự liên tục giữa lý thuyết và thực hành. Đại diện nổi bật của trào lưu này có thể kể Hilary Putnam, Richard Rorty, Robert Brandon (và phần nào quan niệm của Jűrgen Habemas).

 

        Bước ngoặt hủy tạo: khởi từ tranh luận về sự phân biệt/đối nghịch triết hoc và văn chương do định kiến trong quan niệm của Plato cho rằng triết học đắc thủ những chân lý mà văn chương làm ẩn khuất do việc sử dụng ngôn ngữ và hư cấu. Hủy tạo phản bác quan niệm này, chứng minh tính chính xác triết lý của văn chương. Thủ lãnh của thuyết hủy tạo là Jacques Derrida với những tác phẩm từ nghiên cứu hiện-tượng-luận của Husserl qua đối thoại với tư tưởng Heidegger đem đến những phát kiến mới mẻ cho lý thuyết phê bình văn chương. Derrida có ảnh hưởng nhiều ở Mỹ hơn là ở chính quê hương ông. Đồng thời với Derrida, Michel Foucault và Giles Deleuze biến đổi truyền thống nghị luận triết học vì tác phẩm của họ là những quyển sách lạ lẫm cùng cực không những so với sách triết lý cổ điển mà còn cả đối với sách của những triết gia cận đại chẳng hạn như Maurice-Merleau Ponty. Nhưng đọc tác phẩm của Derrida, Foucault, Deleuze ta vẫn nhận ra diện mạo của Nietzsche và Heidegger trên nền bản viết của họ. Không hẳn được coi là triết gia Maurice Blanchot viết nhiều về lý thuyết văn chương với quan niệm ‘quyển sách sẽ viết” “tác phẩm không hoàn tất” (le livre à venir) và một diễn ngôn khác, một diễn ngôn vắng mặt/cõi ngoài, nhưng ảnh hưởng của Blanchot khá đậm nét không những đối với những người cùng thế hệ mà còn cả đối với thế hệ kế thừa. Ta cũng không thể không kể tới những đóng góp của Jean-Francois Lyotard kẻ khởi xướng chủ nghĩa hậu-hiện-đại ở Pháp và xây dựng một khoa học văn chương.

 

        Bước ngoặt triết học tỷ giảo: ở ba thập niên cuối thế kỷ với sự cáo chung của chủ nghĩa thuộc địa mở ra những kênh thông giao phát triển mạnh cuộc đối thoại tư tưởng Đông-Tây qua những định chế văn hóa như các khoa chuyên ngành về văn hóa tư tưởng Á châu ở các đại học nổi tiếng Âu-Mỹ, các tạp chí chuyên ngành nghiên cứu tỷ giảo văn hóa tư tưởng Đông-Tây trong những nước phát triển, các cuộc hội luận được tổ chức có tính toàn cầu với sự tham dự của đông đảo những nhà tư tưởng, những chuyên gia uy tín từ khắp thế giới. Những tranh luận thật sinh động nhằm tạo nên sự thông giao tư tưởng Ấn-Độ, Trung-Quốc, và Nhật với tư tưởng Âu-Mỹ đạt được những thành tựu khá quan trọng. Có lẽ lý thú và tiêu biểu nhất là cuộc tranh luận giữa Francois Billeter chuyên gia về Trang tử  với Francois Julien người được coi là có uy tín về nghiên cứu triết học Trung Quốc của Pháp. Điểm đáng chú ý nhất là Billeter đã chỉ ra mặt trái của những lý giải triết học Trung Quốc trong sách của Julien là nhằm phủ nhận giá trị lịch sử của biến cố Thiên-An-Môn, nghĩa là Francois Julien là một chiếc loa phóng thanh của tập đoàn cộng sản Trung Nam Hải.

 

   Khán trường Triết học thế kỷ 20 với rất đông những khuôn mặt triết gia xuất sắc cho thấy triết học không đi đến chung cuộc. Nhưng việc tìm hiểu một thế kỷ triết học để có câu trả lời cho câu hỏi “Triết học nào cho Thế kỷ 21” quả thực đòi hỏi một vốn kiến thức chuyên ngành thâm hậu. Tác phẩm mới này của Đặng Phùng Quân là một đóng góp quan trọng không những cho những người có ý định theo chuyên ngành triết học mà còn cho những ai muốn tìm hiểu tư tưởng triết học hiện/đương đại. Theo chỗ chúng tôi biết, hiện giờ sách tiếng Việt viết về chủ đề này thật khan hiếm nếu không muốn nói là chưa có quyển nào có tầm vóc của “Triết học nào cho Thế kỷ 21” với cái nhìn tổng quan đưa ra một bức tranh với những con đường ma trận của trận đồ triết học  cho thấy một sự chưa hoàn tất nhìn từ thập niên đầu của thế kỷ 21. Nhưng chính sự không hoàn tất này mở ra một triển vọng cho tương lai vì theo tác giả “nếu hoàn tất có nghỉa là không còn triết học nữa” và “Khi hỏi: triết học nào cho thế kỷ 21, vấn đề hàm ngụ hành trạng của tư tưởng ắt phải đi vào kỷ nguyên mới, hoặc chung cuộc.” Habent sua philosophiae! Mọi triết học có số phần riêng! Triết học tồn tại khi đời sống còn tồn tại vì triết học có một đời sống của triết học. Đặng Phùng Quân lạc quan kết luận: “Trong những góc nhìn muôn vẻ ấy của hành trạng tư tưởng, ghi nhận nơi đối thoại, tranh biện, chứng cớ dưới bất kỳ hình thức thông giao nào.”

 

*Đặng Phùng Quân, Từ Điển Triết Học Giản yếu & Triết Học Nào Cho Thế Kỷ XXI,

 Gió Văn California xuất bản tháng 2, 2011.

 

             Đào Trung Đạo

 

Từ sự sắp xếp nhân sự Ban Bí thư Trung ương Đảng đến vấn đề sửa đổi Hiến pháp

Đào Trung Đạo

Từ sau khi Đại hội XI bế mạc đến nay đã gần một tháng với những nhân vật chủ chốt tứ trụ được thỏa hiệp trong việc chia chác quyền lực ai cũng hiểu rằng mọi chuyện không kết thúc ở đó. Người ta có thể nói được như vậy căn cứ vào tình hình dư luận thực tế xã hội có quá nhiều bức xúc từ trước và sau Đại hội XI cũng như những dấu hiệu cho thấy có sự phân hóa trong chính nội bộ Đảng cũng như sự tranh giành quyền lực của các phe phái trong Đảng.  Trong tuần lễ sau Tết Nguyên đán – nghĩa là sau khi Đại hội XI bế mạc không đầy một tháng, có hai sự kiện chính trị rất đáng chú tâm và căn cứ vào đó chúng ta có thể tiên đoán xem trong thời gian tới những diễn biến chính trị ở nước Việt Nam Cọng sản  sẽ đi theo những chiều hướng nào. Hai dự kiện có quan hệ mật thiết  này là: sự sắp xếp nhân sự Ban Bí thư Trung ương Đảng và vấn đề sửa đổi Hiến pháp.

   Chúng ta biết rằng ngay ở Đại hội XI thứ bậc sắp hạng trong Ban Bí thư của ông Nguyễn Phú Trọng còn ở dưới các ông Trương Tấn Sang, Phùng Quang Thanh, và Nguyễn Tấn Dũng. Tuy vậy ông đã được đặt vào chức Tổng Bí thư do nhu cầu giai đoạn. Cho nên bản thông báo về Nhân sự Ban Bí thư Trung ương Đảng được loan tải trên các hệ thống thông tin truyền thông của nhà nước cho biết “Tổng Bí thư ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng mới đây đã ký quyếr định phân công thành phần Ban Bí thư Trung ương khóa XI với 10 thqành viên.” Sự “lấn cấn” nằm ở chỗ ông Nguyễn Phú Trọng ký quyết định này không phải vì ông ta là người trên thực tế có quyền lực nhất để có thể quyết định phân công thành phần Ban Bí thư Trung ương, nhưng ông đã ký theo hình thức cho đúng với chức vụ Tổng Bí thư. Chính sự “lấn cấn “ này cho phép người ta đặt ra những câu hỏi về sự phân công thành phần Ban Bí thư này. Các chức vụ phân công như sau:

        Trưởng Ban Bí thư: Trương Tấn Sang

        Công tác nội chính: Lê Hồng Anh (công an)

        Trưởng Ban Kiểm tra Trung ương: Ngô Văn Dụ.

        Trưởng Ban Tổ chức Trung ương: Tô Huy Rứa.

        Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương: Đinh Thế Huynh.

        Bốn ủy viên trung ương khác là Ngô Xuân Lịch, Trương Hòa Bình, Hà Thị Khiết, và Nguyễn Thị Kim Ngân tuy ở trong Ban Bí thư nhưng không có chức vụ gì.

   Theo tin tức sau Đại hội XI được loan truyền thì ông Trương Tấn Sang ngoài chức vụ Trưởng Ban Bí thư sẽ kiêm nhiện chức Chủ tịch nước, ông Nguyễn Tấn Dũng vẫn ở chức vụ Thủ tướng, và ông Nguyễn Sinh Hùng sẽ là Chủ tịch Quốc Hội.

   Nhìn sự sắp xếp nhân sự Ban Bí thư ta thấy gì?  Điều thấy rõ trước hết là quyền hành bậc nhất trong Ban Bí thư hiện nằm trong tay ông Trương Tấn Sang vì ông ta là Trưởng Ban Bí thư, và người lâu nay được Trương Tấn Sang hậu thuẫn là Tô Huy Rứa nay nắm giữ chức vụ Trưởng Ban Tổ chức Trung ương. Trong cơ cấu tổ chức của ĐCSVN từ trước tới nay đây là hai chức vụ nhiều quyền lực nhất. Trước khi Đại hội XI khai diễn ta đã thấy hai ông Tô Huy Rứa và Đinh Thế Huynh họp báo, và khuôn mặt mới nổi Đinh Thế Huynh được chú ý nhiều với lời khẳng định Việt Nam không cần đa nguyên đa đảng. Dù không có thông tin hay những chỉ dấu nào cho biết Đinh Thế Huynh thuộc phe nhóm nào nhưng một điều chắc chắn là vị tân Trưởng Ban Tuyên giáo này có khuynh hướng bảo thủ. Về tính cách, ông Đinh Thế Huynh qua lời lẽ cho thấy là một người không mềm mỏng trong cách ăn nói, và rất có thể là tính tình cứng dắn, nóng nảy, độc đoán. Xuất thân từ giới báo chí của Đảng, ông Đinh Thế Huynh nắm chức vụ Trưởng Ban Tuyên giáo trong một giai đoạn khá khó khăn: thứ nhất về quan điểm chính trị hiện đã có khá đông các đảng viên gồm những lão thành cách mạng, những vị trước đây đã từng giữ những chức vụ quan trọng trong guồng máy cai trị, những trí thức từ lâu theo Đảng, và ý kiến phê phán phản biện của xã hôi trên các trang mạng xã hôi lề trái bày tỏ ý kiến hoặc đòi hỏi một sự thay đổi căn bản về cơ chế và phần nào cả về ý thức hệ, hoặc thẳng thắn phản bác những quyết sách cũng như những công việc cụ thể như việc khai thác bauxite, lập đường xe hỏa cao tốc… Ngoài ra Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương cũng còn được giao trọng trách cải thiện nền giáo dục đang khủng hoảng xuống dốc hiện nay (ông t5ân Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương không hề có uy tín và kinh nghiệm về giáo dục!)  Ngoài ra còn phải kể như trong quá khứ đã xảy ra giữa Ban Tuyên giáo Trung ương và bên Công an Văn hóa hoặc thiếu sự hợp tác đồng bộ hoặc ngấm ngầm chống đối nhau. Đối mặt với những thách thức kể trên xem ra ông tân Trưởng Ban Tuyên giáo với vốn liếng kiến thức và kinh nghiệm chính trị giới hạn, không ấn tượng, thật khó có hy vọng thành công! Theo dư luận, ngay trong giới báo chí của Đảng ông Đinh Thế Huynh cũng không được nể trọng, tâm phục. Người ta đọc thấy trên VietnamNet lá thư gửi tân Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương của biên tập viên Quốc Thái (bút hiệu của một tay đảng viên nào đó vào loại nặng ký?) lời lẽ tuy nhã nhặn nhưng không kém thách thức. Phải chăng đây là một kiểu tiếng Mỹ gọi là ‘đặt người vào chỗ để thất bại’ (set up for failure), một đòn hiểm phe phái?

   Trong quá khứ khi ông Hồ Chí Minh còn sống con số ủy viên Ban Bí thư là số lẻ để trước khi đưa ra một quyết sách  các ủy viên bầu phiếu và trong trường hợp ý kiến đồng và bất đồng ngang bằng nhau thì lá phiếu quyết định cuối cùng là của ông Hồ. Nhưng nay con số ủy viên Ban Bí thư là số chẵn, sự đồng thuận nếu không đạt được thì sẽ dễ dàng xảy ra tình trạng ‘mất đoàn kết’ nội bộ. Ta cũng thấy được trong bảng sắp xếp nhân sự Ban Bí thư hiện tại có 4 ủy viên trung ương không có chức vụ gì cho nên khi xảy ra bất đồng thuận vai trò của các ủy viên này lúc đó mới có phần quan trọng. Đấy là một cách sắp đặt trên hình thức có thể hữu dụng, nhưng thực chất sẽ xảy ra những vụ ‘hiệp thương’ kéo bè kéo cánh rất gay cấn.

   Câu hỏi và cũng là ẩn số đặt ra cho tình hình chính trị tương lai là: có mấy phe phái trong Ban Bí thư, và  khi các phe phái này giành dựt quyền hành thì cái gì sẽ xảy ra? Vẫn biết rằng trong nội bộ ĐCSVN họ luôn luôn ‘thỏa hiệp để tồn tại’, nhưng khi trước sức ép từ nhiều phía quá lớn và phe nào cũng muốn độc quyền tồn tại thì liệu họ còn có thể thỏa hiệp được không?

   Như trên đã nói giữa việc sắp xếp nhân sự Ban Bí thư và nhu cầu sửa đổi hiến pháp có mối quan hệ mật thiết. Theo dõi tin tức những ngày gần đây chúng ta thấy việc sửa đổi hiến pháp tuy đã được bàn cãi từ lâu nhưng nay là thời điểm phải có giải pháp, không thể trì hoãn. Trước hết là sự lên tiếng, bày tỏ quan điểm của ông cựu Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An. Kế tiếp là những phát biểu của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết và sau cùng là ý kiến của Bộ trưởng Nội vụ Võ Hồng Phúc. Trong các ý kiến thì Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết ngoài việc ‘thúc đấy’ sửa đối hiến pháp ra đã không đưa ra được điều gì đáng kể (vả lại Nguyễn Minh Triết sắp bị loại ra khỏi quyền lực). Về ý kiến của ông Bộ trưởng Nội vụ thì ông này cũng chỉ đưa ra các tiêu chí cho việc sửa đổi hiến pháp chứ không hé lộ những điểm sửa đổi căn bản. Được chú ý hơn cả là ý kiến về sửa đổi hiến pháp của cựu Chủ tich QH Nguyễn Văn An. Tóm tắt ông Nguyễn Văn An đề nghị: 1. Dân phải là người làm chủ đất nước chứ không phải Đảng làm chủ đất nước. Điều này phải được thể hiện bằng việc Dân phải có quyền phúc quyết hiến pháp vì khi Dân chưa trao quyền quyền lực của Dân cho Nhà nước bằng một văn bản pháp lý cao nhất là hiến pháp tức là chưa có Dân chủ; 2. Vấn đề xác định quyền lực của nguyên thủ quốc gia: quyền của nguyên thủ quốc gia cần được tập trung hơn nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quà quản lý, điều hành của cơ quan hành pháp. Mặt trái của đề nghị này nhằm loại bỏ quyền lực của Tổng Bí thư trước đây can dự vào hành pháp (chứng cớ; khi khởi đầu có phản biện việc khai thác bauxite báo chí lề trái đã phổ biến một văn bản ông cựu Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh ký với Trung Quốc về thỏa thuận khai thac bauxite – một hành động vi hiến rõ rệt – và sau đó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng đồng thuận; trước phản ứng mạnh mẽ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp cả hai ông Mạnh và Dũng đã vào ‘vấn an Đại tướng’!) ; 3.  Phân công và kiểm soát quyền lực cần được cân bằng, nhằm phòng ngừa sự lạm quyền và thoái hóa quyền lực, chống tham nhũng lãng phí, quan liêu và cơ hội trong hệ thống chính trị. Đề nghị này nhắm váo quyền lực của Thủ tướng và các chức vụ cao cấp trong hành pháp.

   Trước hết phải nhìn rõ đây vẫn là những đề nghị của một đảng viên ĐCSVN, dù cho ông Nguyễn Văn An được tiếng là một đảng viên tiến bộ, có đầu óc đổi mới. Nói như vậy có nghĩa là những đề nghị này vẫn còn rất nhiều hạn chế, tuy có ý hướng cải thiện chứ không phải hủy bỏ cơ chế hiện tại. Chứng cớ là không thấy ông Nguyễn Văn An đả động gì tới Điều 4 về độc đảng. Phải chăng với kinh nghiệm sinh họat đấu tranh chính trị vị cựu Chủ tịch QH cho rằng không thể có sự thay đổi toàn diện ngay lập tức mà phải từng bước thay đổi?

   Nhìn chung, chiều hướng của những đề nghị sửa đổi hiến pháp của ông Nguyễn Van An sẽ đặt ông Trương Tấn Sang vào vị trí có nhiều quyền lực nhất chứ không như chức vụ ‘ngồi chơi xơi nước’ của ông Nguyễn Minh Triết trước đây. Hèn chi ông Nguyễn Minh Triết vào những ngày chót còn chức vụ đã ‘thúc đẩy’ sửa đổi hiến pháp phải chăng là một cách bày tỏ dành  hậu thuẫn cho ông Trương Tấn Sang.

   Trong kỳ bầu cử QH vào tháng 5 tới, vai trò của vị tân Trưởng Ban Tổ chức Trung ương sẽ rất quan trọng vì vị này sẽ ‘sắp xếp’ những ai sẽ trúng cử vào QH. Với ông Tô Huy Rứa phe của ông Trương Tấn Sang người ta có thể tiên đoán được những gì sẽ xảy ra. Nhưng ở đời không phải cứ muốn là được. Ngoài việc phe ông Nguyễn Tấn Dũng sẽ ra đòn, và cũng phải kể đến ảnh hưởng của mấy vị cựu Tổng Bí thư cũng như của các lão thành cách mạng, các đảng viên đòi hỏi đổi mới, các trí thức tiến bộ, và dư luận xã hội cho nên cuộc tranh giành quyền lực sẽ rất gay cấn. Từ những khóa họp cuối của QH mấy tháng trước đây chúng ta đã thấy có những dấu hiệu các dân biểu dám ăn dám nói, nghĩa là đã ý thức được nhiệm vụ dân cử của mình, có những hành động tích cực đúng với kỳ vọng người dân. Trong Quốc hội khóa tới bông hoa dân chủ chớm nở đó liệu có cơ may phát triển hay vì vấn đề phe phái sẽ tàn lụi? Tuy QH chưa bầu nhưng chức vị Chủ tịch QH đã được giao cho ông Nguyễn Sinh Hùng. Theo lời đồn thổi thì ông tân Chủ tịch QH này và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong quá khứ không phải là lúc nào cũng ‘thuận buồm xuôi gió.” Với một thành phần nghị viên mới có sự can dự của Trưởng Ban Tổ chức Trung ương thì vai trò của ông Chủ tịch QH xem ra khá thách thức trong việc ‘thỏa hiệp để tồn tại.’ Với tình hình kinh tế không mấy sáng sủa hiện nay công thêm những bất ổn về quyền lực xem ra trong những ngày tháng tới tình hình Việt Nam không mấy sáng sủa.

Đào Trung Đạo

Về hai cuộc họp báo của các ông Hồ Cẩm Đào và Nguyễn Phú Trọng

Đào Trung Đạo

Khi theo dõi những cuộc họp báo với giới ký giả của các lãnh tụ chính trị – nhất là một lãnh tụ ngoại quốc, qua các câu trả lời báo chí người ta rất dễ nhận ra bản lãnh, tư cách, cũng như kinh nghiệm chính trị của vị lãnh tụ này. Thường giới nhà báo ở những xứ tự do khi tham dự những cuộc họp báo quan trọng, nhất là lại được cho biết trước sẽ được đặt câu hỏi, các ký giả chuyên nghiệp nắm khá vững vấn đề cho nên họ đặt câu hỏi trúng trọng tâm, rất sát với sự chờ đợi của độc giả báo họ. Nếu không làm được như vậy nghĩa là họ đã không làm tròn trách vụ của một ký giả, không thực hiện nghiêm túc đệ tứ quyền của giới thông tin báo chí, không tôn trọng và phục vụ đúng mức độc giả, và tờ báo sẽ bị chỉ trích, độc giả bỏ tờ báo không mua đọc nữa. Đấy là về phía người đặt câu hỏi. Còn về phần người trả lời câu hỏi cũng sẽ được độc giả báo chí, truyền thanh truyền hình nhận xét và đánh giá theo nhiều chiều hướng, về nhiều mặt. Một cách tổng quát, quần chúng độc giả là trọng tài và ý kiến của họ luôn được tôn trọng.   Ở vị trí của một độc giả theo dõi hai cuộc họp báo, một của ông Hồ Cầm Đào trong cuộc họp báo chung với tổng thống Barack Obama ở Washington vào ngày thứ nhì của chuyến công du bốn ngày của ông ta, và cuộc họp báo của ông Nguyễn Phú Trọng sau khi được Đại Hội XI của đảng Công sản Việt Nam bầu vào chức vụ Tổng Bí Thư, chúng ta có thể đưa ra một sự so sánh khá ý nghĩa.

   Từ trước cuộc họp báo người ta có thể dự liệu câu hỏi báo giới Mỹ đặt ra cho ông Hồ Cẩm Đào sẽ xoay quanh hai trọng điểm: nhân quyền và tài chánh. Đây là hai mối quan tâm lớn nhất của người Mỹ trong giai đoạn này về hiện tình Trung Quốc. Vấn đề nhân quyền là vấn đề ‘nóng’ vì Trung Quốc đang bị tai tiếng, thế giới ác cảm về việc cầm tù nhà tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền Lưu Hiểu Ba, và họ Lưu lại được trao giải  Hòa Bình. Cách ứng xử của chính quyền dưới sự lãnh đạo của ông Hồ Cầm Đào đã tỏ ra thiếu trách nhiệm, ngoan cố khi không chịu thả ông Lưu Hiểu Ba để ông đi lãnh giải. Tất nhiên ai cũng có thể hiểu được trong lúc này nhà nước Trung Quốc không thể thả ông Lưu, vì làm như thế sẽ mất mặt. Nhưng hành xử của nhà nước Trung Quốc trong việc trước hết là làm áp lực, vận động ủy ban giải Hòa Bình không trao giải này cho ông Lưu Hiểu Ba, và sau khi không thành công họ đã mở một chiến dịch bôi xấu Lưu Hiểu Ba trên toàn thể các cơ quan thông tin báo chí do nhà nước kiểm soát, cuối cùng là vận động một số nước không tham dự ngày trao giải, và tệ hại hơn hết là ngăn cấm vợ của ông Lưu Hiểu Ba cũng như những đồng chí dân chủ của ông không được ra khỏi nước đến Na Uy dự ngày phát giải.

   Theo tường trình của báo chí và các hãng thông tấn ở Mỹ thì:  “Khi ký giả hỏi về tình hình nhân quyền tại Trung Quốc, ông Hồ nói TQ đã có ‘tiến bộ to lớn, được thế giớ công nhận.” Nhưng lập tức sau khi khoe thành tích, họ Hồ phải xuống giọng ngay: “TQ công nhận và cũng tôn trọng tính phổ quát của nhân quyền, nhưng đồng thời chúng tôi tin rằng chúng ta cần phải xét đến hoàn cảnh khác nhau của mỗi nước khi nói đến tính phổ quát của nhân quyền.” Và sau khi đã không thể phủ nhận nhân quyền là phổ quát, họ Hồ tìm cách biện minh cho việc nhà nước dưới sự lãnh đạo của ông chưa thực hiện nhân quyền một cách nghiên túc và đầy đủ vì ”TQ là một nước đang phát triển với dân số vô cùng đông đúc, và đang ở trong giai đoạn cải cách quan trọng do đó vẫn phải đối đầu với nhiều thách thức về kinh tế và phát triển xã hội.” Để kết luận, ông thừa nhận: “vẫn còn nhiều chuyện phải làm trong lĩnh vực nhân quyền.” Như vậy ta có thể hiểu ông Hồ Cẩm Đào mới chỉ nhìn nhận nhân quyền trên nguyên tắc thôi (theo lời người dịch là universal principle) chứ việc thực hiện thì còn tùy hoàn cảnh thực tế ờ mỗi nước. Đây là một cách tránh né khá khôn ngoan.

   Chúng ta biết rằng những lời phát biểu của ông Hồ Cẩm Đào không chỉ hướng tới dân chúng và chính quyền Mỹ mà còn được dân chúng và những người cọng sản đang cầm quyền ở nước ông xâm xoi. Cho nên tuy phải xuống nước dịu giọng với người Mỹ, ông cũng cẩn thận đỡ đòn tất nhiên sẽ có của các đối thủ chính trị trong nước. Đối với Mỹ, họ Hồ thừa nhận hai điều: nhân quyền là ‘nguyên tắc phổ quát’, và TQ còn phải cố gắng nhiều hơn nữa để cải thiện tình trạng nhân quyển trong nước ông.

   Vậy thì Trung Quốc – xét trên tổng thể – đã xứng đáng là một cường quốc như họ vẫn huênh hoang tự nhận chưa?  Thành tựu về phát triển kinh tế của TQ trong hai thập niên vừa qua có cơ sở bền vững không, người dân có được hưởng những giá trị tinh thần không? Ai cũng biết nếu con người mới chỉ đầy đủ về vật chất mà thiếu thốn những giá trị tinh thần thì chưa thể được coi là hạnh phúc.

   Nay đứng ở vị trí trọng tài của người theo dõi cuộc họp báo của ông Hồ Cẩm Đào, chúng ta có nhận xét ra sao? Về sự thỏa mãn đối với câu trả lời câu hỏi của giới báo chí của ông Hồ Cẩm Đào phải nói mới chỉ là 50/50. Nhưng chí ít câu trả lời của ông Hồ Cẩm Đào cũng đã không làm cho dư luận Mỹ nổi giận vì ông – không giống như những lãnh tụ ở nhưng nước cọng sản cai trị trước đây – đã không còn ngoan cố không chịu nhìn nhận nhân quyền có tính phổ quát, và đã thừa nhận nhân quyền tại TQ còn cần được cải thiện nhiều tuy có đưa ra những trở ngại thực tế.  Và trên hết thảy, ông Hồ Cẩm Đào dù không chiếm được hoàn toàn thiện cảm của người Mỹ, nhưng nếu chỉ nhìn bề ngoài thôi thì ông Hồ Cẩm Đào cũng đã tỏ ra là một nhà lãnh đạo ‘có tư cách’, không che đậy lấp liếm sự thực một cách lộ liễu, dù đang ở trong thế yếu phải nhịn nhục, xuống giọng.

   Còn cuộc họp báo của ông Nguyễn Phú Trọng vào ngày 19 tháng 1 năm 2011 thì sao?

   Theo thông báo loan tải trên những phương tiện truyền thong từ trước thì đây là một cuộc họp báo sẽ có cà ký ra trong nước lẫn ngoại quốc tham dự. Nhưng khi cuộc họp báo diễn ra, theo bài tường thuật trên báo mạng VietnamNet thì người đọc chỉ thấy có câu hỏi của các ký giả VietnamNet, Tuổi Trẻ TP.HCM, và Pháp luật TP.HCM. Không thấy có câu hỏi nào của giới báo chí ngoại quốc. Vậy có thể hiểu hoặc ký giả ngoại quốc không được mời (hoặc được mời mà không) tham dự cuộc họp báo, hoặc nếu có tham dự thì cũng không được phép đặt câu hỏi. Nếu giả thuyết ký giả ngoại quốc – ở VN hiện nay có không ít ký giả ngoại quốc đang tác nghiệp – không tham dự hoặc không được mời tham dự cuộc họp báo là đúng thì đó là một điểm ‘không thể tự hào’ về cuộc họp báo này: sự kiện ông Nguyễn Phú Trọng được Đảng bầu làm Tổng Bí thư không đáng là một sự kiện lịch sử  thế giới cần chú tâm. Nếu giả thuyết có ký giả ngoại quốc dự cuộc họp báo mà họ không (hoặc không được) đặt câu hỏi thì điều này còn tệ hại hơn nữa. Cũng rất có thể là Đảng cho rằng đây chỉ là một biến cố nội bộ nên không mời giới báo chí quốc tê tham dự? Như chúng ta đã biết báo chí truyền thông ở VN do chính quyền kiểm soát cho nên người ta rất có thể nghi ngờ rằng  ‘màn hỏi’ của các ký giả VietnamNet, Tuổi Trẻ TP.HCM, và Pháp luật TP.HCM chỉ là kịch bản dàn dựng để sơn phết một sự kiện lịch sử.

   Như vậy về mặt  qui chế tổ chức (protocol) cuộc họp báo phải coi là hỏng, không tạo được uy tín với dư luận cả trong và ngoài nước.

   Nay xét đến những lời tuyên bố của ông Tân Tổng Bí thư. Nếu người ta chờ đợi ông Nguyễn Phú Trọng sẽ đưa ra điều gì mới mẻ thì người ta sẽ hoàn toàn thất vọng. Tất cả những điểm như xây dựng Đảng, đoàn kết dân tộc, đẩy mạnh Đổi mới, hội nhập quốc tế vân vân và vân vân đều đã được các lãnh tụ nói đi nói lại hàng chục năm nay, nhưng ‘nói thì nhiều làm chẳng được bao nhiêu.’ Trước câu hỏi của VietnamNet về việc triển khai rộng rãi cơ chế chất vấn trong Đảng, ông Nguyễn Phú Trọng đã không trả lời thẳng vào câu hỏi mà loanh quanh như ‘chất vấn là một hình thức…Trong Ban chấp hành có chủ trương thực hiện chất vấn tại các kỳ họp trung ương…’ chứ không khẳng định được sẽ triển khai qui chế chất vấn ra sao. Và đã ‘đánh bùn sang ao’ bằng lời tuyên bố ‘Vấn đề là xây dựng quy chế như thế nào để triển khai hiệu quả.”(!) sau khi đưa ra nhận xét ‘vừa qua chất vấn trong Đảng hơi ít.’

   Ông Trọng cũng tự ý dài giòng (không có ai hỏi) về “bầu nhân sự không phải dân chủ trình diễn”- hẳn trong óc ông khi nói như vậy ông đã thừa hiểu dư luận xã hội cho rằng việc bầu cử này chỉ là trình diễn –  nên gián tiếp có ý thanh minh bao biện việc bầu cử trong kỳ Đại hội XI này, và để làm cho không khí cuộc họp báo bớt căng thẳng, ông đã chứng tỏ mình là một nhà lãnh đạo ‘không cần tạo dấu ấn.’ Chúng ta cũng có thể hiểu đây là một lời nói phát ra thực sự từ đáy lòng ông Nguyễn Phú Trọng (có thể từ vô thức) vì quả thực ông tự hiểu mình chỉ là một Tổng Bí thư thuộc loại “tầm thường” so với một vài Tổng Bí thư trước đây.

   Đến câu hỏi gai góc nhất về cương lĩnh nói về đặc trưng ‘có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất’ khi 65% đại biểu sửa lại thành ‘nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiên tiến, phù hợp” thì ‘nhà lý luận của Đảng’ Nguyễn Phú Trọng tỏ ra rất ‘ba phải’, ‘chạy đạn’ khi cho rằng ‘Quyền của Đại hội, biểu quyết thế nào thì phải chấp hành, đó là ý chí của toàn Đảng, chúng tôi nghiêm túc chấp hành.”

   Nhìn chung cuộc họp báo này ta có thể đưa ra mấy nhận xét sau đây:

        Tân Tổng Bí thư không những đã khiến dư luận thất vọng, mất niềm tin vào Đảng, mà còn tỏ ra khinh thường dư luận xã hội khi không đưa ra được những chính sách cụ thể sẽ thực hiện được nêu rõ trong những câu trả lời.

        Vì Việt Nam không có dân chủ, tự do ngôn luận, nên báo chí đã không thể có cơ hội thực thi Đệ tứ quyền, đứng về phía dư luận xã hội để chất vấn lãnh đạo. (không như ông Hồ Cẩm Đào đã bị cật vấn thẳng thừng trong cuộc họp báo nói ở phần trên)

        Tân Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng được những thế lực trong Đảng tạm thời đẩy ra để đối phó với tình thế hiện tại cho nên ông phải đóng vai trò đã được giao. Nhưng ông đã thủ vai diễn này hơi ‘bị’ dở.

        Không thể gọi đây là một cuộc họp báo mà chỉ là mộc cuộc diễn tuồng.

   (Đào Trung Đạo)    

  

Nan đề Vinashin

Đào Trung Đạo

Trước những nỗ lực tuyên truyền làm nổi bật những mặt tích cực để che lấp những mặt tiêu cực của chế độ trên những trang báo giấy và báo điện tử của nhà nước trong những ngày trước khi Đại Hội Đảng sẽ diễn ra vào tháng 1/2011, có thể nói Vinashin là một trong những nan đề khó bề che lấp ở thời điểm ‘bản lề’ này.  Cùng với bô-xít và Biển Đông, Vinashin  vẫn nằm nguyên trong tầm nhìn gần của dư luận xã hội. Vì Vinashin là cơn sóng ngầm  thử thách sự tồn tại của chế độ cho nên dù sự tính toán một giải pháp có tạm thời bị trì hoãn thì ở một thời điểm chin mùi không xa nan đề Vinashin phải được đưa ra bàn mổ. Sự tồn tại hay không tồn tại của Vinashin trong tương lai xét cho cùng không phải là điều quan trong hàng đầu. Nhưng tâm điểm của nan đề này là những bất ổn nền tảng cơ chế lãnh đạo và việc duy trì hay loại bỏ mô hình doanh nghiệp nhà nước. Để có một cái nhìn thông thoáng nan đề này trước dư luận chúng ta thử kiểm điểm sơ lược những ý kiến trên các phương tiện truyền thông cả lề phải lẫn lề trái xoay quanh Vinashin khi nan đề này được đem ra thảo luận trên diễn đàn Quốc Hội, và thử nhìn đằng sau những sự kiện xem còn những điều gì khuất lấp.

   Theo sự ghi nhận của chúng tôi, chúng ta có thể chốt ý kiến phát biểu của những người quan tâm theo dõi những diễn biến quanh vụ Vinashin có thể chia ra hai nhóm: Nhóm thứ nhất cảm thấy phấn khởi khi có một số dân biểu, đứng đầu là ông Nguyễn Minh Thuyết, đã ‘can đảm’ đưa vấn đề trách nhiệm về sự xụp đổ của Vinashin ra trước QH, và còn đi xa hơn một bước, kiến nghị QH lập Ủy ban Lâm thời điều tra và báo cáo trung thực vụ việc, sau đó tiến tới bỏ phiếu tin/bất tín nhiệm Thủ tướng và thành viên chính phủ có trách nhiệm trong vụ xụp đổ Vinashin; những người thuộc nhóm ý kiến này cho rằng đó là một dấu hiệu tích cực trong diễn trình tiến tới dân chủ vì từ trước tới nay dưới sự lãnh đạo của Đảng chưa từng xảy ra điền này. Nhóm ý kiến thứ hai có thể gọi là thái độ ‘wait & see’, tiêu biểu cho nhóm này là ý kiến của chính ông Nguyễn Minh Thuyết khi ông phát biểu: “Theo tôi hiểu, hiện nay các cấp cao của Việt Nam đã giao cho cơ quan có thẩm quyền của đảng cộng sản Việt Nam và cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác định rõ trách nhiệm. Chúng tôi sẽ chờ kết quả ấy xem là như thế nào. Đề xuất của tôi cũng là bình thường nếu ở quốc hội các nước, tuy nhiên ở Việt Nam thì là mới, và tôi nghĩ rằng thôi thì mình cũng phải kiên nhẫn, chờ đợi cái chuyển dịch chứ không thể quá nóng vội được.”  Vậy là sau khi đã cho nổ ‘quả bom’, vị dân biểu này áp dụng sách lược tiến ba bước (với những thế lực sau lưng hỗ trợ) và lùi một bước, chờ đợi ‘thủ thế’, cả ông Nguyễn Minh Thuyết và những thế lực sau lưng ông ta sẽ tùy theo những  diễn biến tình tiết của cuộc tranh giành quyền lực giữa các phe nhóm trong Đảng để định hướng hành động trong tương lai,  đúng như ông ta đã nói “thôi thì mình cũng phải kiên nhẫn, chờ đợi cái chuyển dịch chứ không thể quá nóng vội được.” Chúng ta cũng không nên quên rằng 90% dân biểu QH là đảng viên cọng sản, và chúng ta cũng không có những thông tin về vai trò của ông chủ tịch QH Nguyễn Phú Trọng trong vụ này. Nhưng chắc chắn ông ta phải có vai trò nào đó trong việc Ủy Ban Thường vụ QH ra quyết định ‘chưa cần thiết trình QH về việc thành lập ủy ban lâm thời.’ Không thể ‘tới luôn đi Tám!’ hẳn phải có lý do. Và chúng tôi nghĩ rằng lý do đó là từ cuộc tranh giành quyền lực đang diễn ra trước khi có Đại Hội Đảng.

   Mới đây, trong tuần lễ đầu tiên của năm 2011, báo Vietnamnet đã bầu chọn cả hai ông Nguyễn Tấn Dũng và Nguyễn Minh Thuyết là những nhân vật ấn tượng của năm 2010!

 Bằng những phương tiện truyền thông đại chúng chinh quyền có trong tay để tạm thời thả khói mù vụ Vinashin, nhưng trước sau cũng phải có câu trả lời cho câu hỏi: Trách nhiệm về sự xụp đổ của Vinashin được qui về ai?

   Muốn trả lời câu hỏi này chúng ta không nên quên rằng: Việc lãnh đạo của Đảng CSVN từ trước tới nay trước sau như một là ‘lãnh đạo tập thể”. Những người hướng mũi tấn công tới Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng – kể cả dân biểu Nguyễn Minh Thuyết và những tính toán của thế lực sau lưng ông ta – có thể đã làm một bước sai lầm khi nhắm tới cá nhân Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Nếu đó không là một bước sai về mặt chiến lược thì cũng là một tính toán chưa kỹ lưỡng về hậu quả của hành động này, đã ‘overlook’ một điểm căn bản của chế độ cọng sản. Vì khi đụng chạm tới ‘lãnh đạo tập thể’ – dù cho âm mưu tạo nên sự đụng chạm này do một hay vài thành viên Bộ Chính trị – cũng là đã đụng tới toàn thể Bộ Chính trị gồm 15 thành viên đang nắm giữ quyền hành cao nhất, chưa kể đến những cựu thành viên Bộ Chính trị tuy nay đã ra khỏi nhóm đầu não lãnh đạo nhưng chưa hẳn ảnh hưởng đã hết. Cho nên chúng ta không ngạc nhiên khi ra trước diễn đàn QH Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tỏ ra không hề nao núng khi trả lời chất vấn của các dân biểu QH. Trong phần trả lời của ông, tuy ông ta  tuyên bố “là người đứng đầu chính phủ, tôi xin nhận trách nhiệm về những hạn chế yếu kém của Chính phủ. Thủ tướng, Phó thủ tướng và các thành viên liên quan tiến hành kiểm điểm để làm rõ trách nhiệm ” nhưng không quên ‘nhắc khéo’ mọi người rằng quyết định lập ra Vinashin là một quyết định ‘lãnh đạo tập thể’ của Bộ Chính trị từ thập niên trước! Qua lời tuyên bố của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chúng ta có thể rút ra những điểm sau đây:

        Chủ trương thành lập mô hình Doanh Nghiệp Nhà Nước (DNNN) để nắm quyền chủ động lãnh đạo kinh tế là quyết định của Bộ Chính trị, quyết định này được giao cho Thủ tướng thực hiện. Quyết định lập Vinashin đã có từ thời ông Phan văn Khải làm thủ tướng, và việc đặt ông Phạm Thanh Bình vào chức vụ vừa là Chủ tịch HDQT vừa là Tổng giám đốc Vinashin là do ông Phan văn Khải ký. Tất nhiên ông Phan văn Khải không thể có quyền ký văn bản này mà phải có sự chấp thuận của lãnh đạo tập thể của Bộ Chính trị (có thể vào giai đoạn đó có một vài ủy viên có thế lực lớn đã điều khiển quyết định này.)

        Nay mô hình DNNN, điển hình là Vinashin, thất bại thì trách nhiệm chính là nơi Bộ chính trị, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ ‘nhận trách nhiệm về những hạn chế yếu kém của Chính phủ,’ nghĩa là trách nhiệm phụ thuộc, không phải là người trách nhiệm trên hết. Chính vì bỏ qua (hay cố tình bỏ qua)  điều này cho nên có nhiều người – kể cả các dân biểu – đã thơ ngây đặt câu hỏi tạo sao các Phó thủ tướng, Bộ trưởng khi trả lời chất vấn của các dân biểu QH đều không ai nhận mình có trách nhiệm gì! Dĩ nhiên trách nhiệm của họ có đấy, nhưng vì họ thuộc phe phái của những cá nhân/thế lực khác nhau “gài vào” Vinashin nên các cá nhân/thế lực sau lưng họ phải đứng ra dàn xếp vụ việc, không thể đổ lên đầu họ tất cả trách nhiệm được.  Hơn thế nữa, cũng còn có thể có giả thuyết họ chỉ là những ‘tay chân’ vào Vinashin để kiếm chác, phần lớn tiền bạc kiếm được tất nhiên phải nộp/chia chác cho những cá nhân/thế lực đặt họ vào các chức vụ ở Vinashin, họ chỉ ăn được một phần nhỏ. Không lẽ kẻ được ăn ít mà phải ‘lãnh đủ’ còn những kẻ ăn nhiều lại ‘hạ cánh an toàn!’ Nghĩa là tất cả mọi người có liên hệ trực tiếp tới Vinashin (kể cả ông Phạm Thanh Bình và một vài người khác) đều nắm trong tay lá bùa hộ mệnh là ‘lá bài tẩy’ khi cần sẽ lật ra!

        Nắm vững cả về lý luận chính sách/cơ chế lẫn thực tế ở Vinashin cho nên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khi ra trước QH trả lời chất vấn không những không hề nao núng bối rối, mà còn có một thái độ tuy ngoài mặt nhã nhận, điềm tĩnh nhưng bên trong cho thấy một bản lãnh thủ đoạn, khôn ngoan.

        Thái độ điềm tĩnh này có được vì ông ta ‘nắm trong tay’ con bài tẩy của những cá nhân hay thế lực trong Bộ Chính trị. Ngoài ra sự điềm tĩnh này cũng là một thông điệp gửi đến những người thực sự có trách nhiệm trong Bộ Chính trị rằng  ‘nếu chết thì phải là chết cả đám!’ Nguyễn Tấn Dũng đổ có nghĩa là Đảng CSVN sẽ hoàn toàn xụp đổ.

        Ai cũng biết rằng sách lược thành lập các DNNN chủ yếu là để nắm nền kinh tế quốc dân, nhưng không nhiều người tuy biết nhưng không nói đến một mục đích khác là DNNN là nguồn tài chính để nuôi, duy trì Đảng. Nhưng trên lý thuyết là vậy, còn ngoài thực tế ‘nhân khi bên Tàu có loạn’ các nhân viên có chức quyền ở Vinashin lợi dụng cơ chế lỏng lẻo do sự đụng chạm của những thế lực các nhóm quyền lợi đối nghịch đã ăn cắp tiền bạc tài sản hay lợi dụng chức quyền để thủ lợi cá nhân.

        Hiện tại Bộ chính trị phải đối mặt với hai vấn đề sinh tử: 1. Có thể tiếp tục mô hình Doanh Nghiệp Nhà Nước không? Theo những thông tin chính thức trên các văn kiện Đảng thì câu trả lới là có. Nhưng không ai rõ là “có” tới mức độ nào. Không thể nói không nhưng cũng không thể có như trước do áp lực tình hình kinh tế diễn biến phức tạp dồn dập từng ngày. Và nếu tiếp tục thì phải thay đổi cơ chế quản lý và điều hành ra sao?. Duy trì loại hình “crony economics” này được bao lâu?  2. Giải quyết ra sao vấn đề trách nhiệm vụ Vinashin? Liệu những người thực sự trách nhiệm có thể thỏa hiệp nội bộ với nhau (trong bóng tối) được không? Thỏa hiệp đó sẽ như thế nào? Tổng bí thư Nông Đức Mạnh và “cánh hẩu” cũng như những nhóm quyền lợi trong bóng tối liệu có thể ‘hạ cánh an toàn’ được không? Và nếu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng còn được giữ lại thì thỏa hiệp và dàn xếp các nhóm quyền lợi trong tương lai sẽ như thế nào?  

         Trở lại hai nhóm ý kiến của những người quan tâm theo dõi vụ Vinashin ở QH, chúng tôi nghĩ rằng: với những người lạc quan về tiến độ dân chủ thì chỉ nên ‘lạc quan vừa phải’ còn đối với những người giữ thái độ “wait & see” thì ‘không nên lạc quan’ về kêt quả qui trách nhiệm vụ Vinashin cho những ai!   

(Đào Trung Đạo)

Lại “phê” với “bình”

Đào Trung Đạo blog

Vào dịp cuối năm, sau lễ Giáng sinh, trên một số tờ báo “lề phải” ở TP HCM có đăng những bài tường thuật về cuộc hội thảo với chủ đề “Phê bình văn học, nghệ thuật trên các phương tiện thông tin truyền thông” diễn ra ngày 28-12 do Ban Tuyên giáo Thành ủy và Hội đồng Lý luận phê bình văn học nghệ thuật TP tổ chức. Đối với những người từng theo dõi tin tức về mảng phê bình văn học nghệ thuật trên báo chí ở những nước Âu-Mỹ thì quả thực đây là một tin “lạ”.

Lạ vì việc một cơ quan nhà nước đứng ra “tổ chức” hội thảo về phê bình văn học nghệ thuật. Có thể nói trên hầu hết các nước phát triển trên thế giới, có tự do dân chủ,  với một nền sinh hoạt văn học nghệ thuật sinh động,  không hề – và không thể – có một hiện tượng phải nói là “quái đản” như vậy! Vì sinh hoạt văn học nghệ thuật ttrong đó có lý luận phê bình là phạm vi hoạt động của cá nhân, nhà cầm quyền không được phép hành xử kiểu “vi phạm quyền tự do” bằng cách cưỡng chế sinh hoạt phê bình văn học nghệ thuật. Nhưng vì “nước ta nó vậy” nói theo kiểu “cây đa cây đề” Hoàng Ngọc Hiến, nên chúng ta cứ thử bình tâm theo dõi buổi hội thảo nói trên căn cứ vào những thông tin trên các tờ báo trong nước. Chúng ta sẽ cố gắng không “chán chết” để khỏi phải “chết chán” nói theo kiểu hiền đệ Tưởng Năng Tiến của Thung Lũng Hoa Vàng San Jose.

Công an ngăn chặn buổi hành lễ nhân Ngày Lễ Đản Sanh Đức Huỳnh Giáo Chủ tổ chức tại An Giang trước đây. Photo courtesy PGHH.org

Trước hết hãy điểm mặt những người tham dự cuộc hội thảo có phát biểu ý kiến trong số trên 100 tham dự viên. Theo bài tường thuật trên tờ SGGP thì “Cuộc hội thảo nhận được  sự chú ý của đông đảo học giả, nhà nghiên cứu, nhà báo.” Liền sau dấu chấm câu là “Các đồng chí: Phó Bí thư Thường trực Thành ủy TPHCM Nguyễn Văn Đua, Phó Bí thư Thành ủy TPHCM Nguyễn Thị Thu Hà, Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy TP HCM Nguyễn Thị Quyết Tâm và Phó Chủ tịch  UBND TPHCM Nguyễn Thành Tài đã đến dự hội thảo.” Trước hết xét về mặt viết tin, nhà báo Tường Vi tác giả của bài tường trình đã “mập mờ đánh lận con đen” khi loan tin “Cuộc hội thảo nhận được  sự chú ý của đông đảo học giả, nhà nghiên cứu…” mà không nêu rõ danh tính các học giả, nhà nghiên cứu nào. Điều này quan trọng vì phê bình văn học nghệ thuật là chuyên ngành của các vị này. Không nêu tên họ ra được chứng tỏ cuộc hội thảo không “hoành tráng”, “chất lượng”. Cũng có thể trong nước có không ít các học giả, các nhà nghiên cứu văn học nghệ thuật còn lương tri và phẩm chất trí thức nhưng họ cho rằng cuộc hội thảo này không phải là chỗ để họ đến. Còn việc nêu danh tánh những “quan chức nhà nước” đến tham dự thì việc này nói lên ít nhất hai điều: Thứ nhất, là sự hiện diện của quyền lực. Dĩ nhiên quyền lực củng cố sức nặng (chứ không phài sự quan trọng về mặt chuyên môn) của cuộc hội thảo. Điều này cũng có nghĩa là những người tham dự hội thảo đến để nghe “chỉ thị”, và rất có thể khấp khởi mừng thầm trong bụng chờ nghe “tin vui” về con số ngân sách (có thể) hỗ trợ sinh hoạt phê bình. Thứ hai, điều này có hại hơn có lợi đối với người đọc tinh ý: Những quan chức được nêu danh “có lẽ/hình như” không có chút kiến thức hay kinh nghiệm gì về phê bình văn học nghệ thuật là chủ đề của cuộc hội thảo. Vậy có mặt để làm gì? Điều thứ hai này xác định điều thứ nhất. Và thê thảm hơn nữa là “nuớc ta nó như vậy”, những người tham dự hội thảo chuyên môn về phê bình văn học nghệ thuật đã mặc nhiên chấp nhận đeo vòng kim cô “chỉ đạo định hướng” của những người không có kiến thức về chuyên ngành. Lại cũng có hai điều nữa không thể không nói ra về việc này. Thứ nhất, việc mặc nhiên chấp nhận của những người tham dự phần vì cơm áo gạo tiền, nhưng mặt khác vì họ là những đảng viên cộng sản nên phải tuân theo cơ chế lãnh đạo. Nhưng vấn đề ở đây là lãnh đạo có xứng tầm hay không. Và nếu những cán bộ cộng sản cấp dưới – nếu họ xứng đáng là những người cộng sản chân chính – bao lâu còn nhắm mắt chấp nhận sự điều khiển của những kẻ “ngồi chiếu trên” chỉ vì phải chấp nhận quyền lực nhắm mắt bỏ qua sự thiếu phẩm chất của những người lãnh đạo thì đó là một thái độ cần phải suy nghĩ lại. Hành động mặc nhiên chấp nhận này đưa tới những hậu quả vô cùng tai hại cho xã hội, cho đất nước.

   Nay thử xét đến sự sắp xếp thứ tự ưu tiên những người lên phát biểu và những lời phát biểu của họ. Thứ tự này là “chân lý bất di bất dịch” của những cuộc họp hành có liên hệ tới mặt tư tưởng (sông có thể cạnh núi có thể mòn, nhưng ngàn đời bài bản  không thay đổi) đó là: một đại diện cấp cao của Ban Tuyên huấn Trung ương – trong trường hợp này là Thường trực Hội đồng Lý luận phê bình phải là người đầu tiên lên diễn đàn. Những ai trước đây đã thường theo dõi những phát biểu này thì có thể “nhắm mắt khỏi cần phải nghe/đọc” cũng biết được nội dung những lời phát biểu này! Nhưng nếu mở mắt ra nhìn vào bài tường thuật trên tờ báo thì cái đập vào mắt trước hết là “chức vị bằng cấp” đứng trước tên vị lãnh đạo lên phát biểu: PGS – TS! Đây là một cách chưng bảnh thật lố bịch, không những không thuyết phục đối với người đọc quan tâm tới phê bình văn học nghệ thuật vì họ đã quá biết khả năng trình độ của những vị trong Thường trực Hội đồng Lý luận phê bình là chất “hồng” đánh át chất “chuyên”, còn nói là để thuyết phục đông đảo quần chúng thì thật uổng công vì quần chúng từ lâu đã không còn quan tâm tới phê bình văn học nghệ thuật!  Kiểu phát biểu trong những cuộc hội thảo từ lâu đã được rập khuôn: nhận xét khái quát, đánh giá tình hình các mặt ưu/ khuyết, và  ra chỉ thị. Bài bản theo lý luận phê bình hiện thực xã hội chủ nghĩa lại được lập lại như vẹt là:  “phản ánh và khẳng định các nhân tố mới…..góp phần bảo vệ đường lối văn học nghệ thuật chính thống của Đảng và Nhà nước!” Không biết trong đám những người dự hội thảo có ai đó quay mặt lẩm bẩm “Thôi đi cha nội!” Vì cái gọi là lý luận phê bình hiện thực xã hội chủ nghĩa giờ đây đã là một xác chết được chôn cất từ lâu rồi.

   Nổi cộm trong sinh hoạt phê bình văn học nghệ thuật hiện nay ở trong nước là thực trạng “bát nháo” về phê bình trên các phương tiện thông tin báo chí: khen chê tùy tiện theo cảm tính phe phái. Mổ xẻ tình trạng này những người lên phát biểu tỏ ra rất hời hợt khi qui về hai điểm: đội ngũ làm công tác phê bình báo chí “thiếu hụt nghiêm trọng kiến thức cơ bản về văn học nghệ thuật (hoặc) ngại va chạm, dẫn đến né tránh các hiện tượng sai trái.” Thử hỏi chính vị đang phát biểu liệu có “kiến thức cơ bản về văn học nghệ thuật” hay không? Trong cơ chế thị trường thời mở cửa đổi mới, báo chí không có tự do, những người làm phê bình chân chính không chấp nhận đường lối của Đảng và Nhà nước nên không tham gia phê bình báo chí, thì tình trạng bát nháo này là điều không tránh được. Giải pháp ư? Ngay trước mắt: dẹp bỏ ban Tuyên giáo Trung ương và địa phương, trong đó có Hội đồng Lý luận phê bình! Có lẽ “vô duyên thượng hạng” trong số những lời phát biểu là  lời phát biểu của GS-TS Mai Quốc Liên rằng “cần có sự phối hợp nhuần nhuyễn, hỗ trợ lẫn nhau giữa văn hóa truyền thông và văn hóa tinh hoa để đáp ứng nhu cầu của thời đại.” Văn hóa tinh hoa là văn hóa gì hả ông giáo sư –tiến sĩ? Bộ văn hóa truyền thông là “rác rưởi” sao? Nhưng tuy “giáo sư” có khéo che đậy đến đâu người đời cũng hiểu được thâm ý  muốn “tranh ăn chia phần” của giáo sư: báo chí giờ đây làm ăn khấm khá thì phải biết điều chia phần với “bọn hàn lâm tinh hoa (!) chúng tớ!” Một ý kiến khác được nêu lên: các nhà báo non trẻ được giao quyền quá lớn trong việc phê bình (Ngô Ngọc Ngũ Long). Người ta tự hỏi: đến chính Tổng biên tập của tờ báo chưa chắc đã thực sự có quyền đúng nghĩa, vậy một tay biên tập phê bình văn học nghệ thuật quèn làm sao có quá nhiều quyền? Chẳng phải vì “không có chó, bắt mèo ăn…sao?  Hay NNNL có ý nói quyền đó là việc những tay phê bình báo chí tự cho mình cái quyền“sát phạt lẫn nhau” ? Vì đối tượng bị sát phạt chỉ là những cá nhân không có quyền hành, còn đối với những kẻ có quyền hành thì không dám “mó d…ngựa”!  Xét cho cùng đấy cũng là chuyện bình thường trong cái ổ bát nháo sinh hoạt văn hóa hiện nay! Trong số những người lên phát biểu có lẽ Tổng biên tập báo SGGP Trần Thế Truyền là dám “lên gân chút xíu” vì hơi xốt ruột với lãnh đạo khi đưa ra nhận xét: Hội đồng Lý luận phê bình phản ứng còn khá chậm với tình hình diễn biến văn học nghệ thuật hiện nay…lý luận phê bình trên báo chí (do) thiếu sự định hướng của Nhà nước. Huỵch toẹt ra thì câu nói này có nghĩa: chê trách/phán  thì ai mà chẳng phán được. Có “ngon” thì cứ nói thẳng phải làm thế nào đi.

  Sang phần “giải pháp” không thấy “các đồng chí: Phó Bí thư Thường trực Thành ủy TPHCM Nguyễn Văn Đua, Phó Bí thư Thành ủy TPHCM Nguyễn Thị Thu Hà, Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy TP HCM Nguyễn Thị Quyết Tâm và Phó Chủ tịch  UBND TPHCM Nguyễn Thành Tài” hay PGS-TS Nguyễn Hồng Vinh, Phó chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận phê bình văn học nghệ thuật Trung ương lên tiếng mà chỉ thấy những đề nghị giải  pháp theo đúng bài bản của giới làm báo như: xây dựng một lực lượng đông đảo lý luận phê bình văn học ngệ thuật cung ứng cho các phương tiện truyền thông báo chí, “đổi mới phương pháp lý lý luận phê bình phù hợp với sự biến đổi, xuất hiện mới các thể loại báo chí truyền thông tiên tiến” (cũng lại Tổng biên tâp SGGP Trần Thế Truyền!)  Cha nội này nhiều chuyện quá, ưa phát biểu linh tinh, đòi đổi mới phưong pháp lý luận phê bình “chỉ để” phù hợp với sự biến đổi..”. Thứ nhất, về phương pháp thì đã có phương pháp hiện thực xã hội rồi, làm gì có chuyện đổi mới. Thứ nhì, khi đòi hỏi một phương pháp lý luận phê bình cho các thể loại báo chí truyền thông tiên tiến thì quả thực cha nội này không có chút kiến thức nào về lý luận phê bình văn học nghệ thuật cả. Càng tỏ ra “mù tịt” hơn là “ông GS” Trần Trọng Đăng Đàn khi đề nghị “xây dựng một cơ sở lý luận về tư tưởng, mô hình hoạt động của lý luận phê bình trên truyền thông, dựa vào đó tạo nên lý luận cơ bản định hướng cho lý luận phê bình, tránh tình trạng mập mờ như hiện nay.” Cơ sở tư tưởng nào? Mô hình nào? Cơ sở tư tưởng Mac-Lenin thì đã “xụm” từ hồi nào rồi, mô hình “trên bảo dưới nghe” thì không bao giờ có thể thay đổi. Coi bộ ông  “giáo sư” này nói năng cứ như đang mơ ngủ!

   Lại nói về việc xây dựng đào tạo đội ngũ lý luận phê bình văn học nghệ thuật. Trước hết là đào tạo ở đâu, ở các đại học chuyên ngành hay mở các lớp do Ban Lý luận phê bình phụ trách? Trong tình hình hiện nay có lẽ các lớp này nếu được mở ra sẽ không có người theo học. Vì vào học các giảng viên lại lải nhải về lý luận phê bình hiện thực xã hội chủ nghĩa, đường lối chính sách về văn học nghệ thuật của Đảng và Nhà nước thì coi bộ không hấp dẫn chút nào. Thôi “bỏ đi Tám!” Thế nên giải pháp xây dựng đội ngũ lý luận phê bình xem ra chỉ là nói cho có chuyện để mà nói lấy được. Từ trong căn bản, từ truyền thống, phê bình là ở thế đối lập với quyền lực, phê bình là tự do. Từ hơn nửa thế kỷ nay, ở miền Bắc từ sau 1954, và ở miền Nam từ sau 1975, phải thành thực nhìn nhận  không làm gì có phê bình văn học nghệ thuật. Nhắc lại chuyện cũ, những người can dự vào việc thẳng thắn phê bình tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu đều bị trù dập hãm hại: quyền lực đứng trên, bịt mắt phê bình.

   Khép cuộc hội thảo lại là lời phát biểu của bà Nguyễn Thị Quyết Tâm, Ủy viên Thường vụ, Trưởng Ban Tuyên giáo Thành ủy TPHCM, bà này sau khi khách sáo “đánh giá cao vai trò quảng bá các tác phẩm VHNT, duy trì hoạt động lý luận phê bình của các cơ quan báo chì hiện nay” liền lưu ý báo chí phải “nghiêm khắc nhìn nhận thực trạng đơn lẻ, thiếu chuyên nghiệp trong hoạt động lý luận phê bình”,  để rồi sau đó phủi tay “vai trò tích cực vẫn là của các cơ quan báo chí, các hội chuyên ngành” và “chỉ cần” có sự quan tâm của các cơ quan chức năng! Phải công nhận bà này “quyết tâm mập mờ” khi nói đến “sự quan tâm”. Quan tâm ở đây có nghĩa “thắt chặt thêm sự kiểm soát” hay “sẽ chi thêm tiền”? Nhưng chữ “chỉ” ở đây buộc người nghe phải hiểu là “thắt chặt kiểm soát” chứ tiền thì đừng có mong. Chắc hai ông “giáo sư tiến sĩ” Mai Quốc Liên và Trần Trọng Đăng Đàn cũng như mấy vị Tổng biên tập khi nghe bà Quyết Tâm nói vậy sẽ rất buồn.

   “Phê” ơi là “phê”! “Bình” ơi là “bình”! Tình trạng này có “phê” với “bình” năm này qua năm khác thì cũng không đi đến đâu. Bế tắc hoàn toàn bế tắc, lạc hậu hoàn toàn lạc hậu. Thật đúng là “chán chết”, nhưng làm sao tìm cách để đừng “chết chán”! Câu hỏi bông đùa này là một câu hỏi rất đáng suy nghĩ.

 (Đào Trung Đạo)

Lại “phê” với “bình”

Vào dịp cuối năm, sau lễ Giáng sinh, trên một số tờ báo “lề phải” ở TP HCM có đăng những bài tường thuật về cuộc hội thảo với chủ đề “Phê bình văn học, nghệ thuật trên các phương tiện thông tin truyền thông” diễn ra ngày 28-12 do Ban Tuyên giáo Thành ủy và Hội đồng Lý luận phê bình văn học nghệ thuật TP tổ chức. Đối với những người từng theo dõi tin tức về mảng phê bình văn học nghệ thuật trên báo chí ở những nước Âu-Mỹ thì quả thực đây là một tin “lạ”. Lạ vì việc một cơ quan nhà nước đứng ra “tổ chức” hội thảo về phê bình văn học nghệ thuật. Có thể nói trên hầu hết các nước phát triển trên thế giới, có tự do dân chủ,  với một nền sinh hoạt văn học nghệ thuật sinh động,  không hề – và không thể – có một hiện tượng phải nói là “quái đản” như vậy! Vì sinh hoạt văn học nghệ thuật ttrong đó có lý luận phê bình là phạm vi hoạt động của cá nhân, nhà cầm quyền không được phép hành xử kiểu “vi phạm quyền tự do” bằng cách cưỡng chế sinh hoạt phê bình văn học nghệ thuật. Nhưng vì “nước ta nó vậy” nói theo kiểu “cây đa cây đề” Hoàng Ngọc Hiến, nên chúng ta cứ thử bình tâm theo dõi buổi hội thảo nói trên căn cứ vào những thông tin trên các tờ báo trong nước. Chúng ta sẽ cố gắng không “chán chết” để khỏi phải “chết chán” nói theo kiểu hiền đệ Tưởng Năng Tiến của Thung Lũng Hoa Vàng San Jose.

   Trước hết hãy điểm mặt những người tham dự cuộc hội thảo có phát biểu ý kiến trong số trên 100 tham dự viên. Theo bài tường thuật trên tờ SGGP thì “Cuộc hội thảo nhận được  sự chú ý của đông đảo học giả, nhà nghiên cứu, nhà báo.” Liền sau dấu chấm câu là “Các đồng chí: Phó Bí thư Thường trực Thành ủy TPHCM Nguyễn Văn Đua, Phó Bí thư Thành ủy TPHCM Nguyễn Thị Thu Hà, Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy TP HCM Nguyễn Thị Quyết Tâm và Phó Chủ tịch  UBND TPHCM Nguyễn Thành Tài đã đến dự hội thảo.” Trước hết xét về mặt viết tin, nhà báo Tường Vi tác giả của bài tường trình đã “mập mờ đánh lận con đen” khi loan tin “Cuộc hội thảo nhận được  sự chú ý của đông đảo học giả, nhà nghiên cứu…” mà không nêu rõ danh tính các học giả, nhà nghiên cứu nào. Điều này quan trọng vì phê bình văn học nghệ thuật là chuyên ngành của các vị này. Không nêu tên họ ra được chứng tỏ cuộc hội thảo không “hoành tráng”, “chất lượng”. Cũng có thể trong nước có không ít các học giả, các nhà nghiên cứu văn học nghệ thuật còn lương tri và phẩm chất trí thức nhưng họ cho rằng cuộc hội thảo này không phải là chỗ để họ đến. Còn việc nêu danh tánh những “quan chức nhà nước” đến tham dự thì việc này nói lên ít nhất hai điều: Thứ nhất, là sự hiện diện của quyền lực. Dĩ nhiên quyền lực củng cố sức nặng (chứ không phài sự quan trọng về mặt chuyên môn) của cuộc hội thảo. Điều này cũng có nghĩa là những người tham dự hội thảo đến để nghe “chỉ thị”, và rất có thể khấp khởi mừng thầm trong bụng chờ nghe “tin vui” về con số ngân sách (có thể) hỗ trợ sinh hoạt phê bình. Thứ hai, điều này có hại hơn có lợi đối với người đọc tinh ý: Những quan chức được nêu danh “có lẽ/hình như” không có chút kiến thức hay kinh nghiệm gì về phê bình văn học nghệ thuật là chủ đề của cuộc hội thảo. Vậy có mặt để làm gì? Điều thứ hai này xác định điều thứ nhất. Và thê thảm hơn nữa là “nuớc ta nó như vậy”, những người tham dự hội thảo chuyên môn về phê bình văn học nghệ thuật đã mặc nhiên chấp nhận đeo vòng kim cô “chỉ đạo định hướng” của những người không có kiến thức về chuyên ngành. Lại cũng có hai điều nữa không thể không nói ra về việc này. Thứ nhất, việc mặc nhiên chấp nhận của những người tham dự phần vì cơm áo gạo tiền, nhưng mặt khác vì họ là những đảng viên cộng sản nên phải tuân theo cơ chế lãnh đạo. Nhưng vấn đề ở đây là lãnh đạo có xứng tầm hay không. Và nếu những cán bộ cộng sản cấp dưới – nếu họ xứng đáng là những người cộng sản chân chính – bao lâu còn nhắm mắt chấp nhận sự điều khiển của những kẻ “ngồi chiếu trên” chỉ vì phải chấp nhận quyền lực nhắm mắt bỏ qua sự thiếu phẩm chất của những người lãnh đạo thì đó là một thái độ cần phải suy nghĩ lại. Hành động mặc nhiên chấp nhận này đưa tới những hậu quả vô cùng tai hại cho xã hội, cho đất nước.

   Nay thử xét đến sự sắp xếp thứ tự ưu tiên những người lên phát biểu và những lời phát biểu của họ. Thứ tự này là “chân lý bất di bất dịch” của những cuộc họp hành có liên hệ tới mặt tư tưởng (sông có thể cạnh núi có thể mòn, nhưng ngàn đời bài bản  không thay đổi) đó là: một đại diện cấp cao của Ban Tuyên huấn Trung ương – trong trường hợp này là Thường trực Hội đồng Lý luận phê bình phải là người đầu tiên lên diễn đàn. Những ai trước đây đã thường theo dõi những phát biểu này thì có thể “nhắm mắt khỏi cần phải nghe/đọc” cũng biết được nội dung những lời phát biểu này! Nhưng nếu mở mắt ra nhìn vào bài tường thuật trên tờ báo thì cái đập vào mắt trước hết là “chức vị bằng cấp” đứng trước tên vị lãnh đạo lên phát biểu: PGS – TS! Đây là một cách chưng bảnh thật lố bịch, không những không thuyết phục đối với người đọc quan tâm tới phê bình văn học nghệ thuật vì họ đã quá biết khả năng trình độ của những vị trong Thường trực Hội đồng Lý luận phê bình là chất “hồng” đánh át chất “chuyên”, còn nói là để thuyết phục đông đảo quần chúng thì thật uổng công vì quần chúng từ lâu đã không còn quan tâm tới phê bình văn học nghệ thuật!  Kiểu phát biểu trong những cuộc hội thảo từ lâu đã được rập khuôn: nhận xét khái quát, đánh giá tình hình các mặt ưu/ khuyết, và  ra chỉ thị. Bài bản theo lý luận phê bình hiện thực xã hội chủ nghĩa lại được lập lại như vẹt là:  “phản ánh và khẳng định các nhân tố mới…..góp phần bảo vệ đường lối văn học nghệ thuật chính thống của Đảng và Nhà nước!” Không biết trong đám những người dự hội thảo có ai đó quay mặt lẩm bẩm “Thôi đi cha nội!” Vì cái gọi là lý luận phê bình hiện thực xã hội chủ nghĩa giờ đây đã là một xác chết được chôn cất từ lâu rồi.

   Nổi cộm trong sinh hoạt phê bình văn học nghệ thuật hiện nay ở trong nước là thực trạng “bát nháo” về phê bình trên các phương tiện thông tin báo chí: khen chê tùy tiện theo cảm tính phe phái. Mổ xẻ tình trạng này những người lên phát biểu tỏ ra rất hời hợt khi qui về hai điểm: đội ngũ làm công tác phê bình báo chí “thiếu hụt nghiêm trọng kiến thức cơ bản về văn học nghệ thuật (hoặc) ngại va chạm, dẫn đến né tránh các hiện tượng sai trái.” Thử hỏi chính vị đang phát biểu liệu có “kiến thức cơ bản về văn học nghệ thuật” hay không? Trong cơ chế thị trường thời mở cửa đổi mới, báo chí không có tự do, những người làm phê bình chân chính không chấp nhận đường lối của Đảng và Nhà nước nên không tham gia phê bình báo chí, thì tình trạng bát nháo này là điều không tránh được. Giải pháp ư? Ngay trước mắt: dẹp bỏ ban Tuyên giáo Trung ương và địa phương, trong đó có Hội đồng Lý luận phê bình! Có lẽ “vô duyên thượng hạng” trong số những lời phát biểu là  lời phát biểu của GS-TS Mai Quốc Liên rằng “cần có sự phối hợp nhuần nhuyễn, hỗ trợ lẫn nhau giữa văn hóa truyền thông và văn hóa tinh hoa để đáp ứng nhu cầu của thời đại.” Văn hóa tinh hoa là văn hóa gì hả ông giáo sư –tiến sĩ? Bộ văn hóa truyền thông là “rác rưởi” sao? Nhưng tuy “giáo sư” có khéo che đậy đến đâu người đời cũng hiểu được thâm ý  muốn “tranh ăn chia phần” của giáo sư: báo chí giờ đây làm ăn khấm khá thì phải biết điều chia phần với “bọn hàn lâm tinh hoa (!) chúng tớ!” Một ý kiến khác được nêu lên: các nhà báo non trẻ được giao quyền quá lớn trong việc phê bình (Ngô Ngọc Ngũ Long). Người ta tự hỏi: đến chính Tổng biên tập của tờ báo chưa chắc đã thực sự có quyền đúng nghĩa, vậy một tay biên tập phê bình văn học nghệ thuật quèn làm sao có quá nhiều quyền? Chẳng phải vì “không có chó, bắt mèo ăn…sao?  Hay NNNL có ý nói quyền đó là việc những tay phê bình báo chí tự cho mình cái quyền“sát phạt lẫn nhau” ? Vì đối tượng bị sát phạt chỉ là những cá nhân không có quyền hành, còn đối với những kẻ có quyền hành thì không dám “mó d…ngựa”!  Xét cho cùng đấy cũng là chuyện bình thường trong cái ổ bát nháo sinh hoạt văn hóa hiện nay! Trong số những người lên phát biểu có lẽ Tổng biên tập báo SGGP Trần Thế Truyền là dám “lên gân chút xíu” vì hơi xốt ruột với lãnh đạo khi đưa ra nhận xét: Hội đồng Lý luận phê bình phản ứng còn khá chậm với tình hình diễn biến văn học nghệ thuật hiện nay…lý luận phê bình trên báo chí (do) thiếu sự định hướng của Nhà nước. Huỵch toẹt ra thì câu nói này có nghĩa: chê trách/phán  thì ai mà chẳng phán được. Có “ngon” thì cứ nói thẳng phải làm thế nào đi.

  Sang phần “giải pháp” không thấy “các đồng chí: Phó Bí thư Thường trực Thành ủy TPHCM Nguyễn Văn Đua, Phó Bí thư Thành ủy TPHCM Nguyễn Thị Thu Hà, Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy TP HCM Nguyễn Thị Quyết Tâm và Phó Chủ tịch  UBND TPHCM Nguyễn Thành Tài” hay PGS-TS Nguyễn Hồng Vinh, Phó chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận phê bình văn học nghệ thuật Trung ương lên tiếng mà chỉ thấy những đề nghị giải  pháp theo đúng bài bản của giới làm báo như: xây dựng một lực lượng đông đảo lý luận phê bình văn học ngệ thuật cung ứng cho các phương tiện truyền thông báo chí, “đổi mới phương pháp lý lý luận phê bình phù hợp với sự biến đổi, xuất hiện mới các thể loại báo chí truyền thông tiên tiến” (cũng lại Tổng biên tâp SGGP Trần Thế Truyền!)  Cha nội này nhiều chuyện quá, ưa phát biểu linh tinh, đòi đổi mới phưong pháp lý luận phê bình “chỉ để” phù hợp với sự biến đổi..”. Thứ nhất, về phương pháp thì đã có phương pháp hiện thực xã hội rồi, làm gì có chuyện đổi mới. Thứ nhì, khi đòi hỏi một phương pháp lý luận phê bình cho các thể loại báo chí truyền thông tiên tiến thì quả thực cha nội này không có chút kiến thức nào về lý luận phê bình văn học nghệ thuật cả. Càng tỏ ra “mù tịt” hơn là “ông GS” Trần Trọng Đăng Đàn khi đề nghị “xây dựng một cơ sở lý luận về tư tưởng, mô hình hoạt động của lý luận phê bình trên truyền thông, dựa vào đó tạo nên lý luận cơ bản định hướng cho lý luận phê bình, tránh tình trạng mập mờ như hiện nay.” Cơ sở tư tưởng nào? Mô hình nào? Cơ sở tư tưởng Mac-Lenin thì đã “xụm” từ hồi nào rồi, mô hình “trên bảo dưới nghe” thì không bao giờ có thể thay đổi. Coi bộ ông  “giáo sư” này nói năng cứ như đang mơ ngủ!

   Lại nói về việc xây dựng đào tạo đội ngũ lý luận phê bình văn học nghệ thuật. Trước hết là đào tạo ở đâu, ở các đại học chuyên ngành hay mở các lớp do Ban Lý luận phê bình phụ trách? Trong tình hình hiện nay có lẽ các lớp này nếu được mở ra sẽ không có người theo học. Vì vào học các giảng viên lại lải nhải về lý luận phê bình hiện thực xã hội chủ nghĩa, đường lối chính sách về văn học nghệ thuật của Đảng và Nhà nước thì coi bộ không hấp dẫn chút nào. Thôi “bỏ đi Tám!” Thế nên giải pháp xây dựng đội ngũ lý luận phê bình xem ra chỉ là nói cho có chuyện để mà nói lấy được. Từ trong căn bản, từ truyền thống, phê bình là ở thế đối lập với quyền lực, phê bình là tự do. Từ hơn nửa thế kỷ nay, ở miền Bắc từ sau 1954, và ở miền Nam từ sau 1975, phải thành thực nhìn nhận  không làm gì có phê bình văn học nghệ thuật. Nhắc lại chuyện cũ, những người can dự vào việc thẳng thắn phê bình tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu đều bị trù dập hãm hại: quyền lực đứng trên, bịt mắt phê bình.

   Khép cuộc hội thảo lại là lời phát biểu của bà Nguyễn Thị Quyết Tâm, Ủy viên Thường vụ, Trưởng Ban Tuyên giáo Thành ủy TPHCM, bà này sau khi khách sáo “đánh giá cao vai trò quảng bá các tác phẩm VHNT, duy trì hoạt động lý luận phê bình của các cơ quan báo chì hiện nay” liền lưu ý báo chí phải “nghiêm khắc nhìn nhận thực trạng đơn lẻ, thiếu chuyên nghiệp trong hoạt động lý luận phê bình”,  để rồi sau đó phủi tay “vai trò tích cực vẫn là của các cơ quan báo chí, các hội chuyên ngành” và “chỉ cần” có sự quan tâm của các cơ quan chức năng! Phải công nhận bà này “quyết tâm mập mờ” khi nói đến “sự quan tâm”. Quan tâm ở đây có nghĩa “thắt chặt thêm sự kiểm soát” hay “sẽ chi thêm tiền”? Nhưng chữ “chỉ” ở đây buộc người nghe phải hiểu là “thắt chặt kiểm soát” chứ tiền thì đừng có mong. Chắc hai ông “giáo sư tiến sĩ” Mai Quốc Liên và Trần Trọng Đăng Đàn cũng như mấy vị Tổng biên tập khi nghe bà Quyết Tâm nói vậy sẽ rất buồn.

   “Phê” ơi là “phê”! “Bình” ơi là “bình”! Tình trạng này có “phê” với “bình” năm này qua năm khác thì cũng không đi đến đâu. Bế tắc hoàn toàn bế tắc, lạc hậu hoàn toàn lạc hậu. Thật đúng là “chán chết”, nhưng làm sao tìm cách để đừng “chết chán”! Câu hỏi bông đùa này là một câu hỏi rất đáng suy nghĩ.