Lưu trữ theo thẻ: Mặc Lâm

Nhà thơ, họa sĩ Trần Nhương


2010-10-08

Trần Nhương còn có những bút danh khác như Trường Nhân, Lâm Thao. Trần Nhương sáng tác trên nhiều lĩnh vực, ông viết tiểu thuyết, truyện ngắn, làm thơ và những năm gần đây ông còn tiến sang lĩnh vực hội họa.

Người đa tài

tran_nhuong_blogquechoa-200.jpg
Nhà thơ, họa sĩ Trần Nhương. Photo courtesy of blog quechoa

Nhiều tác phẩm văn học của ông đã được xuất bản từ năm 1980. Hai tác phẩm thơ quan trọng “Gương mặt tôi yêu” xuất bản năm 1980 và “Bài thơ tình của lính” xuất bản năm 1987 đã được giới sinh hoạt văn học nghệ thuật chú ý đến.

Tiểu thuyết “Dòng sông không có đôi bờ” của ông xuất bản năm1997 và tái bản năm 2005. Tập truyện mới nhất mang tên “Em đã có một người đàn ông” xuất bản năm 2010.

Tuy mới bước vào lĩnh vực hội họa, Trần Nhương đã sáng tác khá nhiều và ông đã có 7 cuộc triển lãm cá nhân và nhóm từ năm 1998 tới nay. Tranh của Trần Nhương được giới thưởng ngoạn đánh giá có chiều sâu và mang nhiều hơi hướm thi ca trong từng tác phẩm.

Tác giả Trần Nhương hiện đã về hưu sau nhiều năm tham gia vào sinh hoạt văn học nghệ thuật và ông cũng là thành viên của nhiều tổ chức văn học nghệ thuật, trong đó bao gồm hội viên hội nhà văn Việt Nam. Trần Nhương hiện là biên tập viên của báo Người Cao Tuổi Việt Nam.

Nói về tự thân, tác giả Trần Nhương sơ lược đôi điều về mình như sau:

Trước đây mình là giáo viên, mình viết và in những bài đầu tiên từ năm sáu mấy…nhưng in báo trung ương gọi là oách một tì thì từ năm 67 mới bắt đầu in trên tờ Quân Đội, sau đó đi bộ đội, đi lính. Cuộc đời cứ làm thơ làm văn, đi dự đại hội văn trẻ lần thứ hai năm 71…Tất nhiên văn chương mình nó cũng chẳng nổi quả gì nhưng thôi mình cứ làm bền bỉ…

Trần Nhương là một tác giả xuất thân từ bộ đội, sau một thời gian ngắn làm giáo viên tại Hà Nội, ông nhập ngũ và cũng như mọi thanh niên khác, ông tham gia chiến trường ngành vận tải vào năm 1965. Đi nhiều, tiếp cận nhiều cảnh đời trong chiến tranh. Ông san sẻ cái nhìn của mình trong tập thơ “Bài thơ tình của lính” do nhà xuất bản Quân đội xuất bản năm 1987. Tác phẩm này tái bản lần thứ 2 năm 2005 và nhận Giải thưởng Bộ Quốc phòng năm 1989.

Tập thơ “Bài thơ tình của lính” mang hơi hướm của người bộ đội viết về những nơi mình đi qua, những suy nghĩ rời rạc cũng như các trăn trở như người đọc thường thấy trong các tác phẩm viết về người lính trong cuộc chiến. Bên cạnh những bài thơ về mẹ của các tác giả cùng thời hay trước ông, bài thơ Mẹ của Trần Nhương có lẽ gây được sự xao động nơi người đọc trong tập thơ này.

Cũng những khắc khoải tự trách và hình ảnh làng quê lớn lên song song cùng với bà mẹ, nhưng Trần Nhương đã vượt khá xa nhiều tác giả khác khi tránh được những nhóm từ quen thuộc như ca dao thường xuất hiện trong những bài thơ về mẹ. Ông không dùng từ ngữ nào mới nhưng những hình ảnh đến và đi trong bài thơ đôi khi buồn đến chạnh lòng:

Từ lòng Mẹ con lớn lên

Qua vòm cổng đá ong chân trời như ban ngày ào đến

Tuổi thơ ngây vội vàng

Bước chân trâu sá cày bỡ ngỡ.

Khi giọng nói vỡ ra, manh áo chật

Buông theo cày con cầm súng lên đường

Mẹ tiễn con rồi cánh cửa mở ra

Đón vầng trăng vào nhà bầu bạn

Ngày mùa nhớ con đầy nồi cơm mới

Ngày tết nhớ con phấp phỏng câu chào

Con đi núi xanh rừng xanh

Mái tóc Mẹ thắm suốt đường chiến dịch

Rời lũy tre bé bỏng

Con đến với bao la mặt trận trong này.

Cảm xúc rất thật

Đọc lại bài thơ “Đất nước những ngày này” trong tập thơ, người đọc dễ dàng nhận ra những cảm xúc thật rất đáng suy ngẫm của tác giả trong thời gian ấy. Ông nhìn lại những gì mà sau bao năm người lính cùng nhân dân miền Bắc tranh đấu bằng máu để dành lại được, nhưng đời sống người dân vẫn cơ cực như ngày nào khi chiến tranh còn đang tiếp diễn.

Niềm tin sẽ có một ngày tươi sáng hơn vẫn cháy rực rỡ trong tim nhà thơ, vì theo ông, cũng như hàng trăm ngàn người lính lúc ấy, mặt trận kinh tế và chính trị không thể nào gian khổ bằng mặt trận quân sự mà ông và bạn bè đưa lưng chống đỡ. Niềm tin vào cái nghèo sẽ bị tiêu diệt chừng như phơi phới trong lứa tuổi thanh xuân của ông lúc bấy giờ:

Cái đói nghèo còn theo mãi

Chợ sớm chợ chiều giá gạo như nước lên

Bữa ăn thành mối lo ngày đêm

Vài mét vải hai năm nay mặc tạm

Bao cám dỗ những chân trời di tản

Kéo người nhẹ dạ ra đi

Nắng hạn chưa qua, bão lụt lại về

Mùa màng thất bát

Cái cũ kỹ như sợi dây trói buộc

Đâu sao Khuê lấp lánh phía chân trời?

Trước bao điều dữ dội

Nếu không có Đảng mình đất nước sẽ về đâu…

lang-250.jpg
Một bức tranh làng quê VN của họa sĩ Trần Nhương. Photo courtesy of trannhuong.com

“Nếu không có Đảng mình đất nước sẽ về đâu?” là câu hỏi rất thật trong phạm trù niềm tin mà ông và rất nhiều người lúc ấy đặt vào. Tiếc thay, những điều dữ dội trong cuộc sống sau gần nửa thế kỷ chừng như vẫn hiện diện như chưa bao giờ có cuộc đổi thay ở đất nuớc này.

Sau nhiều năm nằm trong chiếc tổ ấm mang tên Đảng, một hôm Trần Nhương giật mình nhớ tới hai từ “nhân dân” quen thuộc. Nhân dân xưa và nhân dân ngày nay có khác:

Trước lũ lụt nhân dân thất bại

Gặp cửa quyền thất bại phía nhân dân

Thời lạm phát nhân dân thất bại

Nhập tách gì thất bại chỉ nhân dân

Chống tham nhũng nhân dân đều thất bại

Cải cách gì thất bại gửi nhân dân

Vậy mà cứ trường tồn hơn tất cả

Võng lọng, oai quyền năm tháng sẽ hư không

Nhân dân lọc vứt đi bao cặn bã

Để tìm ra rờ rỡ trái tim hồng…

Năm 2002, trong một bài thơ mang tên “Chẳng có gì quan trọng” tác giả nhìn lại mình, nhìn lại chung quanh sau một thời gian dài sáng tác. Trần Nhương thảng thốt thú nhận mọi nỗ lực tranh đấu để tồn tại hay gạt bỏ đều vô ích. Một cách gián tiếp, tác giả thú nhận những viễn mơ mà ông từng kinh qua, tuy đẹp nhưng cuối cùng thì chỉ là những kết quả buồn, nào có gì đâu để gọi là quan trọng.

Những cuốn sách một thời như sấm trạng

Giờ bán cân bà đồng nát mua về

Những quy phạm một thời như thước ngọc

Thành vết hằn ghi dấu sự ngô nghê.


Dòng sông Đà hùng dũng nhường kia

Giờ ngăn đập sông luồn qua cửa cống

Biển Vũng Tàu cứ tưởng mình dài rộng

Dàn khoan dầu biển hoá mảnh ao quê.

Người quan trọng một thời bao thuộc hạ

Giờ vẩn vơ đợi khách chẳng ai thăm

Em hoa hậu đẹp như nhành lửa ấm

Bếp thời gian để lại chút than hoa!


Em của anh ơi, chẳng gì là quan trọng

Đến tình yêu cũng có thể già

Ta hãy sống vô tư như trẻ nhỏ

Sáng xuân này lối ngõ nở đầy hoa..

Thơ của ông trong thời gian gần đây có khuynh hướng theo dõi những diễn biến xã hội, đặc biệt mẫn cảm với những bất công, giằng xé trong giới nông dân nghèo và những nạn nhân thời cuộc. Khi xảy ra sự cố công an bắn chết một học sinh trong vụ xô xát tại khu lọc hóa dầu Nghi Sơn do người dân xã Tĩnh Hải tập trung tại phần đất thuộc khu lọc hóa dầu này để ngăn cản đơn vị thi công vì họ chưa đồng tình với phương án giải quyết đền bù.

Bài thơ mang tên “Thơ viết ngày 1 tháng 6” khá nhẹ nhàng nhưng không vì thế mà kém phần xót xa, ông viết:

Ngày vui này các em thiếu đi một bạn

Bạn Lê Xuân Dũng

Mười hai tuổi học lớp 6 ở Tĩnh Hải, Nghi Sơn

Ngã xuống khi cùng dân làng giữ đất


Thương thay !

Bạn chưa kịp nhìn thấy những mẻ dầu

Được lọc ngay trên quê hương bạn

Chưa được nhìn tàu cao tốc

Chạy qua đất Tĩnh Gia

Chưa kịp lớn để trái tim lỡ nhịp

Bởi một ánh nhìn ai đó online


Có thể đó là không cố ý của viên công an

Làm bạn dừng ở tuổi 12

Nhưng đối diện với nhân dân

Viên công an nhân dân

Đưa đạn lên nòng là cố ý…

Nghịch lý cuộc sống

trannhuong-200.jpg
Một bức tranh của họa sĩ Trần Nhương. Photo courtesy of trannhuong.com

Trong bài “Ngọt Đắng”, Trần Nhương đi xa hơn trước những mâu thuẫn mà ông đối diện hàng ngày trong đời sống. Những yếu tố hạn hẹp manh mún xuất hiện song song với nhau làm ông hụt hơi phân tích để rồi cuối cùng “ngọt và đắng” trở thành kết quả tự nhiên khiến ông phải chấp nhận như một vĩnh hằng. Tác giả không đặt cho mình câu hỏi nào, sự trải nghiệm đã làm ông tỉnh táo hơn trước các nghịch lý mà ông cho là tất nhiên phải có. Bản năng tranh đấu của người cộng sản trước bất công hình như đã mòn trong cuộc hành trình dài hơi của người lính. Ông trở nên tĩnh lặng trước đen và trắng của cuộc đời, ông viết:

Em dịu dàng mềm mại như nhung

Lại cứng nhắc gan lỳ như thép

Trời mênh mông vẫn còn bao lối hẹp

Người tươi cười che đậy lắm mưu mô


Tưởng vĩnh hằng bền vững Liên xô

Ngôi sao đỏ thành một thời hoài niệm

Voi to lớn lại ngại ngùng lũ kiến

Quan như thần hóa bè lũ maphia


Nơi thâm cung ngưỡng mộ nhường kia

Bao trung nịnh, bao dâm ô, tội ác

Đến đồng tiền cũng đi liền với bạc

Có ban ngày còn có cả ban đêm

Nước triều vơi rồi nước triều lên

Biển lớn thế vẫn chịu bờ trói buộc

Bao trải nghiệm cho ta nhìn thấy được

À thế ra ngọt đắng vẫn đi cùng…

Những ngày về hưu đối với nhiều người là một quãng thời gian để nghỉ ngơi và hồi tưởng, nhưng đối với Trần Nhương lại là những gọi nhớ không bình yên khi nhận thấy đời con chim trong lồng mà ông nuôi sao lại giống với những bâng khuâng mà ông chứng kiến hàng ngày đến thế!

Bài thơ mang tên “Lặng Im” có lẽ phần nào chia sẻ được những hoài niệm chen lẫn bâng khuâng và ít nhiều cay đắng của một nhà thơ trước những thang bậc cuối cùng của đời người ngắn ngủi và giới hạn.

Về hưu nuôi một con chim

Để mong bớt cái lặng im trong nhà

Ngày một, ngày hai, ngày ba

Thức ăn, nước uống, mang ra nhấc vào

Huýt sáo líu ríu khơi mào

Ngọt ngào câu hỏi lời chào cậu chim

Thế mà nó vẫn lặng im

Đôi khi ánh mắt lim dim mơ màng

Nuôi chim mong tiếng hót vang

Mà chim không hót nghĩ càng chán thêm

Tôi ngồi nghĩ ngợi liên miên

Hay là nó muốn đòi tiền cát-xê

Hay là đương chức ù lì

Chỉ ăn không nói làm chi cho phiền

Hay là quan chức cấp trên

Kiệm lời ra dáng người hiền của dân

Hay là kẻ sĩ ngu đần

Cúi đầu vâng dạ làm thân tôi đòi

Hay là khao khát khoảng trời

Rừng xanh một thuở là nơi vẫy vùng

 

Con chim héo hắt trong lồng

Và tôi xao xác muối lòng sớm trưa

Tôi ra cửa hàng đã mua

Đổi con chim khác cho vừa ý hơn

Người bán nhìn tôi cười ròn:

Chim lồng nó thế cụ còn mong chi

Tôi buồn thả cậu chim đi

Nó bay một quãng lại về… lạ chưa ?

Thương chim oanh liệt ngày xưa

Trong lồng lâu quá ngu ngơ một đời

Lặng im là lặng im ơi

Hình như đang cất bao lời với ta…

Quý vị vừa theo dõi một vài tác phẩm của nhà thơ họa sĩ Trần Nhương. Hy vọng chúng tôi sẽ trở lại với ông trong một bài viết về hội họa của người nghệ sĩ đa tài này….

Nhà thơ Nguyễn Đình Chính


2010-10-02

Nguyễn Đình Chính sinh năm 1946 tại Hà Nội. Ông là con trai thứ hai trong số ba người con của nhà văn Nguyễn Đình Thi, và bà Bùi Nữ Trâm Nguyệt Nga.

Photo courtesy of VTC.VN

Nhà thơ Nguyễn Đình Chính

Năm 1951, bà Nguyệt Nga mất vì trọng bệnh tại khu di tản, Nguyễn Đình Chính sống với bà ngoại. Năm 1955, Nguyễn Đình Chính về Hà Nội và học hết phổ thông. Năm 1965, đi bộ đội. Năm 1976, xuất ngũ, thương binh bậc hai. Nguyễn Đình Chính từng công tác nhiều năm trong các lĩnh vực điện ảnh, sân khấu và báo chí. Hiện ông sống ở Hà Nội.

Nguyễn Đình Chính cũng viết hay làm những công tác khác trong lĩnh vực điện ảnh và kịch nghệ. Tác phẩm Rừng Lạnh của ông được chuyển thể thành kịch bản điện ảnh; tác phẩm Người Trên Mặt Sông và Hòn Đảo chìm xuống không được duyệt và khoảng 15 vở kịch khác, trong đó 5 vở đã được dựng và diễn trên các sân khấu Hà Nội.

Khắc khoải với tệ nạn xã hội

Ông làm khá nhiều thơ và dư luận chú ý nhiều đến thơ ông qua trang mạng hơn là tác phẩm in thông thường. Thơ Nguyễn Đình Chính chứa nhiều nhạc điệu trầm lắng hòa cùng tiếng vọng ngữ nghĩa luôn lung linh qua khung cửa mở rộng với thơ tự do. Bài thơ tình mang tên “Bài Ca Tình Yêu” có những chữ thật đẹp, cái đẹp làm người đọc bàng hoàng, ông viết:

 

chiều buồn như một lời xin lỗi

quán bia nhễ nhại bên đường.

anh ngồi hoá đá

nắng tháng mười hớt hải đi qua

 

Nét đẹp của chữ trong thơ Nguyễn Đình Chính không hề giả tạo, ông đặt chúng bên cạnh những khắc khoải mà dân tộc ông phải sống chung như sống chung với lũ, đó là nạn bia ôm. Ông nhìn tệ nạn này dưới cặp mắt tỉnh táo và thật thà đưa ra nhận xét:

 

em đấy ư

mắt thâm quầng mất ngủ

bàn tay thô ráp

tình cờ

mùi nước hoa rẻ tiền

 

em đấy

bật nút chai bia thứ nhất

chào nhau

làm quen

cái miệng cười lạ lùng

như hoa nở

 

ai tìm ai yêu nhau

tuyệt vọng săn lùng trái tim dính đạn

thế giới nghèo hèn vẫn đòi ta phải sống.

phải sống

phải thở

phải ăn và

phải yêu

 

ai đi tìm ai yêu nhau

nước mắt cô đơn mồ hôi cô đơn

máu rỏ cô đơn

trong ly bia sủi bọt

 

bật nút chai bia thứ hai

chia thật đều niềm vui ướt

về hai ngả

niềm vui gì

không biết

(hay không thèm biết)

chia thật đều nỗi đau ướt

về hai ngả

nỗi đau gì

không biết

 (hay không thèm biết)

 

tâm hồn đói khát săn lùng

ảo giác tình yêu vô vọng

hoang đường và

ngu xuẩn

 

bật nút chai bia thứ ba

em đây

anh đây

nụ hôn không hề do dự

trút bỏ xiêm y giả mạo

ta ngả vào nhau

giản dị mơ màng

yêu

yêu

em đây

anh đây

vườn địa đàng có thật

 

Đậm đặc yếu tố thời sự

Thơ Nguyễn Đình Chính ngay cả trong tình yêu cũng đậm đặc yếu tố thời sự. Với ông hình như làm thơ là để phác họa lại những gì đang xảy ra trong đời sống, ngay cả tình yêu, thứ hàng quốc cấm không phải dễ dàng để chia sẻ.

 

Là con trai của Nguyễn Đình Thi, một nhà thơ nổi tiếng trong nhiều thời kỳ nhưng Nguyễn Đình Chính không có một nét nào khiến người ta có thể liên tưởng tới người cha của ông. Theo Nguyễn Đình Chính thì ông và cha ông không hề có một chia sẻ nào về thơ ca, ông nói.

 

Có lẽ góc nhìn khác hẳn người cha của ông là một yếu tố tích cực khiến ông đứng riêng ra một cõi, bất kể chỗ đứng này có phù hợp với sự nghiệp của cha ông hay không.

 

Trong bài “Những hạt bụi hoá đá” Nguyễn Đình Chính trêu chọc

 

chúng tôi như những hạt bụi bay

(không phải bay mà chỉ lơ lửng)

lơ lửng lơ lửng

dưới bầu trời tổ quốc mênh mông

trên mặt đất tổ quốc mênh mông

chúng tôi không thể bay lên được

 

đùa giỡn với bầy chim cánh trắng nhởn nhơ chúng tôi cũng không thể sà xuống ngã vào cỏ hoa xanh biếc như ngọc chúng tôi cũng không thể nào phình to hoặc teo tóp lại không thể rẽ ngang rẽ ngữa không thể quay phải quay trái những hạt bụi không thể chết và lại càng cũng không thể sống giữa thiên đường tổ quốc

 

nẻo trời xa

hạt bụi đời

hạt bụi trái tim

hạt bụi hồn tôi

bay đi đâu

bạn ơi

 

chúng tôi như những hạt bụi bay

(không phải bay mà chỉ lơ lửng)

những hạt bụi

đang chầm chậm

hoá đá

hoá

đá

 

Nguyễn Đình Chính quan niệm chỉ viết những gì ông thấy và chia sẻ được. Triết lý đơn giản này thật ra không dễ dàng khi quá nhiều văn thi sĩ theo chân cha của ông là Nguyễn Đình Thi viết theo đơn đặt hàng của Xã hội chủ nghĩa. Hai cha con tuy cùng cầm bút trong nhiều thời kỳ nhưng ngã rẽ của ý thức đã làm ông ngày càng xa hơn mối tình phụ tử.

 

Trong “Bài thơ thắp đèn” Nguyễn Đình Chính”

 

Thắp đèn lên

góp một niềm vui nhỏ

chung triệu niềm vui ánh lửa đồng bào

những ngày này ta nắm chặt tay nhau

nắm thật chặt

cố gắng chạy

chạy

chạy chạy

 

băng qua vũng bùn nỗi buồn cúi đầu nô lệ rửa mặt thật sạch hàng triệu hàng triệu người đang hiện rõ mặt con người hiện rõ mặt con người (không phải mặt con vật) ngẩng lên không còn sợ hãi

 

xin lỗi không thể hiểu được

tức cười

tại sao mà lâu nay lại sợ thế nhỉ

 

thật ra chúng nó chỉ có một dúm

mấy chục thằng bệnh hoạn

lai lịch mờ ám

đang chết sặc trong quyền lực và tiền bạc

 

tôi vẫn mơ tới một ngày

đi phượt cùng anh

hai thằng nằm dài trên đỉnh núi

lục túi hút chung một điếu vi na

tán lăng quăng về thơ tân hình thức

chỉ có thế

rồi tuyết lở chôn vùi năm tiếng

nhưng…

còn lâu hai thằng mới ngoẻo

xin lỗi mấy em thổ mừ cứu hộ

các anh đang thèm một ly cốt nhắc

cốt nhắc thứ thiệt

và có thể

lại một điếu vi na

và cũng có thể

hai em vén váy ngồi xuống đây

trợn mắt lên mà nghe

chẹc chẹc

đang lò mò

bò sang thơ kể

xin lỗi — đéo thể hiểu được

tức cười

giấc mơ nhỏ nhoi mà khó thành chuyện thực

 

thắp đèn lên

góp lửa triệu người

mong một ngày

lửa tự do

sáng bừng đất việt

sáng bừng đất việt

sáng bừng đất việt

 

Nguyễn Đình Chính nhìn chung quanh và làm thơ. Ông đào sâu sự kiện để lật mặt trái của từng sự việc. Bằng những rung cảm của một nhà thơ, vấn đề thời sự được ông nhào nặn thành vật thể có thể cảm nhận được một cách cụ thể. Trong bài “Tôi cũng là người vô gia cư” ông viết:

 

Tôi cũng là người vô gia cư như bà,

thưa bà tiến sĩ, mặc dù tôi cũng có công việc làm đàng hoàng như bà, thưa bà tiến sĩ

 

Tôi là người vô gia cư mặc dù hàng ngày tôi vẫn ăn, vẫn ngủ, vẫn hít thở không khí bụi bặm và vẫn làm tình nhăn nhở trong một ngôi nhà 4 buồng giá hàng trăm ngàn đô la.

 

Bao nhiêu năm nay rồi tôi là người vô gia cư trên tổ quốc của tôi khi tôi viết những bài thơ kể về nỗi buồn bi thảm của dân tộc tôi nỗi buồn đã bị mấy kẻ ác tâm tàng hình nghiền thành bột đổ xuống cống rãnh hôi thối.

 

Tôi là người vô gia cư trên tổ quốc của tôi mỗi khi tôi hát lên bài ca thương cảm giống như bát cháo hoa vẩy lên trời bố thí cho hàng triệu oan hồn lang thang đói khát bị chết oan không hiểu vì sao mình lại chết trong cuộc chiến tranh chỉ mang lại quyền lực và tiền bạc cho một dúm kẻ kẻ ác tâm tàng hình.

 

Buổi chiều hôm nay gió lạnh đổ về

 

tôi nhìn thấy bà đang co ro ngồi trên ghế đá lạnh buốt ngoài công viên, thưa bà tiến sĩ còn tôi thì đang ngồi thu mình trong căn buồng ấm áp.Vậy mà tôi cũng đang lâm vào cảnh khốn nạn như bà, thưa bà tiến sĩ.

 

Bà bị đuổi ra khỏi ngôi nhà xây bằng

tiền bạc gom góp suốt đời của bà

Còn tôi thì bị đuổi ra khỏi ngôi nhà xây bằng niềm tin mà tôi cũng đã dành dụm suốt cả đời tôi

 

Niềm tin mà nhà thơ dành dụm suốt đời không hề dám hoang phí đã một sớm một chiều bị đồng đội, đồng chí của ông tước mất. Chẳng những mất lòng tin mà còn mất cả tự do sáng tác và phát hành tác phẩm của mình. Nguyễn Đình Chính đưa ra những sự thật mà ông cho rằng không dễ thấy. Sau khi qua nhiều hệ thống kiểm duyệt một tác phẩm ra đời đáng lẽ phải hay, phải sắc sảo lắm nhưng thường thì ngược lại, chúng chỉ có thể gọi là tàm tạm mà thôi.

 

-Chắc chắn…anh không biết bây giờ trong nước người ta…

 

Cùng hát lên

 

tôi muốn chia sẻ với bạn

không phải một miếng cơm ăn

 

không phải một manh áo mặc

cũng không phải một chút ít tiền bạc

tôi muốn chia sẻ với bạn

một dúm không khí tự do

để thở

dúm không khí tự do sặc sụa rác bẩn

hang ngày quắn quại trên đầu chúng ta

 

khó thở quá

 

bạn ơi hãy siết chặt tay với tôi

và cùng hát lên thật to

bài hát của bà chúa Liễu Hạnh

bài hát của bà tổ mẫu Po Inư Nagar

 

kể về hạt lúa trổ bông ngã nghiêng trên cánh đồng kể về bụi cỏ mắt trâu nở hoa rực rỡ trên ngọn đồi cao kể về đàn cá da trơn quẫy mình tung tăng ngoài biển bài hát ngàn năm kể về sông núi đất đai này là của ông bà anh em chúng ta đâu phải của riêng một bọn người dấu mặt đang tàng hình

 

tôi muốn chia sẻ với bạn

nỗi buồn không thể nói lên thành lời

không của riêng ai

nỗi buồn vô gia cư

lang thang

đi hoang

trong ngôi nhà tổ quốc.

 

Quý vị vừa theo dõi tác giả Nguyễn Đình Chính qua những bài thơ cùng nhận xét, chia sẻ của ông đối với sự nghiệp thi ca. Xin trân trọng cám ơn quý vị.